Nằm cách TP Đà Nẵng gần 30 km về phía nam và cách phố cổ Hội An chưa đầy 10 km về phía tây, dinh trấn Thanh Chiêm xưa và nay là làng Thanh Chiêm thuộc xã Điện Phương, huyện Điện Bàn (Quảng Nam) vốn là một trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị quan trọng của xứ Đàng Trong từ thời chúa Nguyễn.
Quảng Nam với nghĩa là vùng đất rộng lớn ở phương Nam, nơi đây vốn là đất của Chiêm Thành. Đất đai màu mỡ, sản vật phong phú, dân cư đông đúc. Hàng năm số thuế thu ở Quảng Nam còn hơn cả Thuận Hóa.
Năm Nhâm Dần 1602, Chúa Tiên - Nguyễn Hoàng xây dựng dinh trấn Thanh Chiêm và cử hoàng tử Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi) làm trấn thủ để cai quản và mở mang bờ cõi về phía nam. Dinh trấn Thanh Chiêm lúc này được các thương nhân nước ngoài biết đến qua cái tên Cac Ciem hay Kẻ Chiêm.
< Dinh trấn Thanh Chiêm và phố Nhật Bản tại Hội An với hai con đường dài 300 thước và chợ dù Phù Tang đặc trưng. Ảnh trích đoạn từ tranh thế kỷ 17: GIAO CHỈ QUỐC MẬU DỊCH HẢI ĐỒ hiện treo tại một ngôi chùa thành phố Nagoya, Nhật Bản.
Theo nhiều sử sách, vùng đất Thanh Chiêm cũng là nơi các giáo sĩ phương Tây soạn chữ quốc ngữ mà ngày nay chúng ta đang sử dụng. Trên văn bia đình làng Thanh Chiêm có ghi hai câu đối nói về thời thịnh vượng của dinh trấn Thanh Chiêm khi tàu bè các nước vào cảng Hội An phải về Thanh Chiêm làm thủ tục.
Hai thế kỷ lừng danh, vẻ vang dấu cũ (thế kỷ 17-18); Bốn trăm năm truyền thống, rạng rỡ làng xưa (1602-2007) trở thành niềm tự hào của người dân Thanh Chiêm và Điện Bàn.
Dinh trấn Thanh Chiêm ngày nay không còn nữa nhưng những hình ảnh hiếm hoi còn sót lại và những trang viết về dinh trấn của người đương thời đã minh chứng cho một thời kỳ vàng son của vùng đất Điện Bàn, Hội An, Quảng Nam trong quá trình mở nước của dân tộc.
Đến Thanh Chiêm có thể đi bằng đường bộ theo QL 1A hoặc theo sông Hoài từ Hội An ngược dòng Thu Bồn. Ngày nay, du khách có nhiều cơ hội khám phá, tham quan các làng nghề truyền thống vang tiếng như đúc đồng Phước Kiều, dệt chiếu, làm bánh tráng, làm gốm mỹ nghệ và đặc biệt là thưởng thức món bê thui Cầu Mống hay món mì Phú Chiêm nức tiếng gần - xa.
Làng Thanh Chiêm còn là nơi dừng chân của du khách trên con đường di sản nối liền Hội An và Mỹ Sơn. Đây là tour hành hương rất lý thú, giúp du khách tìm hiểu thêm về đời sống nông thôn và lịch sử của một vùng đất giàu truyền thống của miền Trung.
Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Báo Thanh Niên, Blog Ngobadung, ảnh internet
Hiển thị các bài đăng có nhãn Địa danh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Địa danh. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2013
Thứ Năm, 18 tháng 4, 2013
Bảo tàng Văn hóa Khmer Trà Vinh
Trà Vinh là tỉnh duyên hải thuộc đồng bằng sông Cửu Long, giáp tỉnh Sóc Trăng về phía Tây - Tây Nam (có ranh giới là sông Hậu dài hơn 60km), phía Tây - Tây Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long và phía Bắc - Đông Bắc giáp tỉnh Bến Tre, có ranh giới là sông Cổ Chiên (một nhánh của sông Tiền).
< Mặt trước nhà Bảo tàng Văn hóa Khmer Trà Vinh.
Đến Trà Vinh, du khách thường ngạc nhiên trước một rừng cây cổ thụ trong lòng đô thị, cảm nhận được một bầu không khí hết sức trong lành. Ngoài những di tích, thắng cảnh nổi tiếng như bãi biển Ba Động, ao Bà Om... và chùa chiền Khmer, nhà Bảo tàng Văn hóa Khmer nằm cạnh ao Bà Om cũng là một điểm đến thú vị.
< Nhà Bảo tàng Văn hóa Khmer Trà Vinh được thiết kế kết hợp kiến trúc truyền thống và hiện đại.
Hiện nay, cả nước chỉ có hai bảo tàng văn hóa Khmer, một ở Sóc Trăng và một ở Trà Vinh. Bảo tàng Văn hóa Khmer Trà Vinh được khánh thành vào năm 1995, bảo tồn rất nhiều hiện vật phản ánh về đời sống văn hóa tinh thần, văn hóa vật chất của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long. Bảo tàng có một khuôn viên với nhiều cây xanh và cây kiểng tỏa rợp bóng mát cho cả một không gian rộng lớn.
Nhà Bảo tàng được xây một trệt một lầu theo kiểu kiến trúc truyền thống kết hợp với kiến trúc hiện đại. Tầng trệt là văn phòng làm việc của cán bộ, nhân viên bảo tàng. Dưới cầu thang để lên tầng trên có xây một hồ bán nguyệt, trong hồ nuôi nhiều cá cảnh góp phần tạo cảm giác dễ chịu, thoáng mát. Tầng trên có ba phòng trưng bày hiện vật. Phòng đầu tiên dùng để trưng bày các hiện vật về mô hình các ngôi chùa của người Khmer, có sala dùng để các sư sãi ngồi... Đến gian này, du khách như được đi vào một thế giới khác - thế giới của các thần linh qua óc tưởng tượng bay bổng, lãng mạn và bàn tay tài hoa của các nghệ nhân.
< Dụng cụ đánh bắt thủy sản của nông dân Khmer.
Đáng chú ý là các tượng chim thần Key-no, hiện thân của nữ thần trong các truyền thuyết tín ngưỡng dân gian của người Khmer, tượng người chim Tết Pro-nam với nghệ thuật cách điệu tinh tế, dùng để trang trí dưới các hiên chùa, tạo đường nét nhẹ nhàng, thanh thoát cho các công trình trong quần thể kiến trúc đa dạng, độc đáo và sinh động.
Phòng thứ hai trưng bày các nông cụ truyền thống của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long; các công cụ sản xuất như khung cửi và đánh bắt thủy sản như đăng, đó, nò, cộ... Óc thẩm mỹ dân gian Khmer được thể hiện rõ trên các công cụ sản xuất và đời sống bằng những màu sắc, đường nét tinh xảo mang sắc thái dân tộc độc đáo ngay trên các chất liệu tre, gỗ và gáo dừa. Chiếc hái cắt lúa được chạm khắc, trang trí hình chim hoặc hình đầu rồng “niêk”. Chiếc cọc cấy lúa chạm hoa văn hình dọc.

< Bộ nhạc cụ dàn ngũ âm.
Trong gian này còn có các loại trang phục truyền thống của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long. Du khách vào đây sẽ thấy rất lạ lẫm và thích thú trước các hiện vật được trưng bày sinh động với nhiều thể loại khác nhau. Đặc biệt, bảo tàng còn trưng bày một cách có hệ thống về chữ viết của dân tộc Khmer. Phát triển từ chữ Phạn được viết trên lá buông trải qua 12 lần cải biên, chữ viết Khmer mới định hình như ngày nay.
Phòng thứ ba là phòng trưng bày các nhạc cụ truyền thống, các trang phục, đạo cụ, mặt nạ… Những hình ảnh trưng bày tại đây đã tái hiện rất sinh động hai loại hình nghệ thuật sân khấu là sân khấu Rồ-băm (kịch múa) xuất xứ từ nghệ thuật cung đình, sân khấu Dù-kê (kịch hát) ra đời trong dân gian từ đầu thế kỷ XX và phát triển mạnh hơn từ sau năm 1945.
Các nhạc cụ của người Khmer rất phong phú và đa dạng, được chia làm hai loại: dàn nhạc dân gian (nhạc dây) và dàn nhạc lễ (nhạc ngũ âm). Dàn nhạc ngũ âm được chế tác bằng năm chất liệu khác nhau gồm đồng, sắt, gỗ, da và hơi.
Cùng với Bảo tàng Văn hóa Khmer Sóc Trăng, Bảo tàng Văn hóa Khmer Trà Vinh là điểm tham quan hấp dẫn đối với du khách, các nhà khảo cổ, sưu tầm văn hóa dân tộc trong và ngoài nước. Đến đây, chúng ta càng có dịp hiểu được sâu hơn những giá trị văn hóa to lớn mà cộng đồng người dân tộc Khmer đã gìn giữ và phát huy.
Du lịch, GO! - Theo Thời báo Kinh Tế Sàigòn, internet
< Mặt trước nhà Bảo tàng Văn hóa Khmer Trà Vinh.
Đến Trà Vinh, du khách thường ngạc nhiên trước một rừng cây cổ thụ trong lòng đô thị, cảm nhận được một bầu không khí hết sức trong lành. Ngoài những di tích, thắng cảnh nổi tiếng như bãi biển Ba Động, ao Bà Om... và chùa chiền Khmer, nhà Bảo tàng Văn hóa Khmer nằm cạnh ao Bà Om cũng là một điểm đến thú vị.
< Nhà Bảo tàng Văn hóa Khmer Trà Vinh được thiết kế kết hợp kiến trúc truyền thống và hiện đại.
Hiện nay, cả nước chỉ có hai bảo tàng văn hóa Khmer, một ở Sóc Trăng và một ở Trà Vinh. Bảo tàng Văn hóa Khmer Trà Vinh được khánh thành vào năm 1995, bảo tồn rất nhiều hiện vật phản ánh về đời sống văn hóa tinh thần, văn hóa vật chất của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long. Bảo tàng có một khuôn viên với nhiều cây xanh và cây kiểng tỏa rợp bóng mát cho cả một không gian rộng lớn.
Nhà Bảo tàng được xây một trệt một lầu theo kiểu kiến trúc truyền thống kết hợp với kiến trúc hiện đại. Tầng trệt là văn phòng làm việc của cán bộ, nhân viên bảo tàng. Dưới cầu thang để lên tầng trên có xây một hồ bán nguyệt, trong hồ nuôi nhiều cá cảnh góp phần tạo cảm giác dễ chịu, thoáng mát. Tầng trên có ba phòng trưng bày hiện vật. Phòng đầu tiên dùng để trưng bày các hiện vật về mô hình các ngôi chùa của người Khmer, có sala dùng để các sư sãi ngồi... Đến gian này, du khách như được đi vào một thế giới khác - thế giới của các thần linh qua óc tưởng tượng bay bổng, lãng mạn và bàn tay tài hoa của các nghệ nhân.
< Dụng cụ đánh bắt thủy sản của nông dân Khmer.
Đáng chú ý là các tượng chim thần Key-no, hiện thân của nữ thần trong các truyền thuyết tín ngưỡng dân gian của người Khmer, tượng người chim Tết Pro-nam với nghệ thuật cách điệu tinh tế, dùng để trang trí dưới các hiên chùa, tạo đường nét nhẹ nhàng, thanh thoát cho các công trình trong quần thể kiến trúc đa dạng, độc đáo và sinh động.
Phòng thứ hai trưng bày các nông cụ truyền thống của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long; các công cụ sản xuất như khung cửi và đánh bắt thủy sản như đăng, đó, nò, cộ... Óc thẩm mỹ dân gian Khmer được thể hiện rõ trên các công cụ sản xuất và đời sống bằng những màu sắc, đường nét tinh xảo mang sắc thái dân tộc độc đáo ngay trên các chất liệu tre, gỗ và gáo dừa. Chiếc hái cắt lúa được chạm khắc, trang trí hình chim hoặc hình đầu rồng “niêk”. Chiếc cọc cấy lúa chạm hoa văn hình dọc.
< Bộ nhạc cụ dàn ngũ âm.
Trong gian này còn có các loại trang phục truyền thống của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long. Du khách vào đây sẽ thấy rất lạ lẫm và thích thú trước các hiện vật được trưng bày sinh động với nhiều thể loại khác nhau. Đặc biệt, bảo tàng còn trưng bày một cách có hệ thống về chữ viết của dân tộc Khmer. Phát triển từ chữ Phạn được viết trên lá buông trải qua 12 lần cải biên, chữ viết Khmer mới định hình như ngày nay.
Phòng thứ ba là phòng trưng bày các nhạc cụ truyền thống, các trang phục, đạo cụ, mặt nạ… Những hình ảnh trưng bày tại đây đã tái hiện rất sinh động hai loại hình nghệ thuật sân khấu là sân khấu Rồ-băm (kịch múa) xuất xứ từ nghệ thuật cung đình, sân khấu Dù-kê (kịch hát) ra đời trong dân gian từ đầu thế kỷ XX và phát triển mạnh hơn từ sau năm 1945.
Các nhạc cụ của người Khmer rất phong phú và đa dạng, được chia làm hai loại: dàn nhạc dân gian (nhạc dây) và dàn nhạc lễ (nhạc ngũ âm). Dàn nhạc ngũ âm được chế tác bằng năm chất liệu khác nhau gồm đồng, sắt, gỗ, da và hơi.Cùng với Bảo tàng Văn hóa Khmer Sóc Trăng, Bảo tàng Văn hóa Khmer Trà Vinh là điểm tham quan hấp dẫn đối với du khách, các nhà khảo cổ, sưu tầm văn hóa dân tộc trong và ngoài nước. Đến đây, chúng ta càng có dịp hiểu được sâu hơn những giá trị văn hóa to lớn mà cộng đồng người dân tộc Khmer đã gìn giữ và phát huy.
Du lịch, GO! - Theo Thời báo Kinh Tế Sàigòn, internet
Những cảnh đẹp quanh Đền Hùng
Nếu bạn đến thăm Đền Hùng, Phú Thọ vào dịp Giỗ Tổ Hùng Vương này và muốn tham quan thêm nhiều địa điểm khác thì bạn có thể yên tâm. Bởi vì ngoài các di tích và đền chùa, Phú Thọ cũng được thiên nhiên ưu đãi nhiều thắng cảnh đẹp lắm đấy.
< Đền Hạ trong khu vực đền Hùng.
Suối Tiên
Từ thành phố Việt Trì, đi về phía Tây Bắc khoảng 80 km là đến Ao Giời – Suối Tiên nằm trên Núi Nả thuộc xã Quân Khê – huyện Hạ Hoà.
Suối Tiên bắt nguồn từ núi Nả, với chiều dài hơn 10 km quanh co chảy qua các khe đá và trông như một dải lụa trắng bạc. Đầu nguồn của con suối có Giếng Tiên, diện tích chừng 40m², sâu đến hơn 10m. Từ đáy giếng, dòng nước phun lên mát lạnh, ngọt ngào tạo thành Suối Tiên.
Màu trắng của Suối Tiên hòa lẫn với màu xanh của mây trời và núi rừng tạo nên một cảnh trí sinh động làm xao xuyến lòng người. Suối Tiên chảy qua nhiều tầng, bậc tạo nên 14 con thác có độ cao khác nhau, trong đó có một số thác cao đến 20m. Dưới chân các thác nước cao là những phiến đá khổng lồ, trải qua thời gian dài bị xói mòn, đã thành những chiếc ao nhỏ mà đáy ao là cả một phiến đá, làm nên vẻ đẹp riêng có ở nơi đây.
Cảnh vật ở đây còn khá hoang sơ nên bạn có thể leo núi, cắm trại, nghỉ dưỡng và thậm chí là nghiên cứu khoa học.
Vườn Quốc gia Xuân Sơn
Vườn quốc gia Xuân Sơn là khu rừng nguyên sinh trên núi đá vôi vẫn còn giữ được rất nhiều nét hoang sơ. Một ngày ở Xuân Sơn khí hậu thay đổi 4 mùa: buổi sáng mát mẻ, trong lành như mùa xuân; buổi trưa ấm áp như mùa hè; buổi chiều hiu hiu như mùa thu; buổi tối trời se lạnh.
Giá trị nhất của Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm ở hệ động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng và có giá trị sinh học cao. Ở đây có những cây chò cao bằng toà nhà 20 tầng hay cây gỗ nghiến cổ thụ gốc bạnh to 3 người ôm không xuể…
Đến Xuân Sơn, bạn có thể tham quan Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tìm hiểu sự phát triển của các loại động thực vật quý hiếm, khám phá vẻ đẹp của các ngọn núi hay trải nghiệm cảm giác phiêu lưu trong hang động. Ngoài ra, ở đây bạn có thể thưởng thức món đặc sản thịt lợn rừng và rượu Xuân Sơn cay nồng bên bạn bè sẽ rất tuyệt vời.
Núi Thắm
Trên bản đồ hành chính, núi Thắm như giao long uốn mình bao bọc phía Tây xã Khải Xuân (Thanh Ba). Không chỉ tạo địa thế vững trãi cho một vùng đất, núi Thắm còn là chứng tích cho nhiều cuộc đời dâu bể, từ tăm tối bước ra ánh sáng.
Phần khác, vì có hình dáng như đầu rồng nên Núi Thắm còn được gọi là núi Đầu Rồng. Núi dài gần 4km xung quanh có hàng trăm ngọn đồi nằm kề nhau xanh mướt.
Bao đời nay, núi Thắm là biểu tượng thiêng liêng, niềm tự hào và gắn bó mật thiết với người Khải Xuân. Chưa đầy thế kỷ trước, đây còn là vùng rừng núi hoang vu với hệ động, thực vật phong phú, đa dạng. Ngoài các loại gỗ quý như: Đinh, lim, dổi, de, chò chỉ, sến, táu… mọc bạt ngàn, núi Thắm còn là nơi cư trú của nhiều loài thú quý hiếm: Hổ, báo, gấu, hươu, nai…
Đầm Ao Châu
Đầm Ao Châu hay Đầm Ao Trâu là một hồ nước lớn trong xanh nằm trên địa bàn thị trấn Hạ Hòa, xã Ấm Hạ, xã Y Sơn và xã Phụ Khánh thuộc huyện Hạ Hòa, cách thành phố Việt Trì 65 km về phía Tây Bắc. Mặt hồ khoảng 2,2km và có hình dáng như đầu con trâu.
Đầm Ao Châu có 99 ngách, đan cài vào các đồi, núi, thu nước của 99 con suối nhỏ đổ về. Trong hồ có rất nhiều đảo lớn nhỏ, lâu nay đã được nhân dân trong vùng trồng các loại cây ăn quả như vải, nhãn, mít, bưởi...
Đầm Ao Châu có nhiều loại cây kỳ dị và phong cảnh khá huyền bí. Theo truyền thuyết dân gian thì đây là nơi ẩn cư của các binh tướng Thủy Tinh sau khi bị Sơn Tinh đánh bại.
Khí hậu khu vực Ao Châu mát mẻ, dễ chịu, không xảy ra hiện tượng nhiệt độ quá thấp trong mùa đông hay thời tiết khô nóng gay gắt trong mùa hè như ở các vùng khác. Không khí trong lành thích hợp cho việc du lịch nghỉ dưỡng.
Hang động Xuân Sơn
Hang động này thuộc xã Xuân Sơn, huyện Thanh Sơn, phía tây tỉnh Phú Thọ. Đây là một quần thể hang động kỳ ảo và nằm sâu trong rừng cây bạt ngàn bí ẩn. Ðộng Tiên là một hang ngầm trong lòng núi đá cẩm thạch dài 10km. Trong hang có đường thông gió lên thẳng đỉnh núi, làm cho không khí trong lành mát dịu. Hồ nước có nhiều loài cá lạ hấp dẫn. Chắc chắn bạn sẽ ngỡ ngàng khi nhìn thấy vẻ đẹp của các nhũ đá ở đây.
Bên cạnh những thắng cảnh này, bạn còn có dịp tham gia nhiều lễ hội khác nhau. Chẳng hạn như Hội bơi chải, Hội rước voi, Hội rước Chúa Gái, Hội ném còn của dân tộc Mường…
Du lịch, GO! - Tổng hợp từ ProGuide.vn, Yeudulich và nhiều nguồn khác
< Đền Hạ trong khu vực đền Hùng.
Suối Tiên
Từ thành phố Việt Trì, đi về phía Tây Bắc khoảng 80 km là đến Ao Giời – Suối Tiên nằm trên Núi Nả thuộc xã Quân Khê – huyện Hạ Hoà.
Suối Tiên bắt nguồn từ núi Nả, với chiều dài hơn 10 km quanh co chảy qua các khe đá và trông như một dải lụa trắng bạc. Đầu nguồn của con suối có Giếng Tiên, diện tích chừng 40m², sâu đến hơn 10m. Từ đáy giếng, dòng nước phun lên mát lạnh, ngọt ngào tạo thành Suối Tiên.
Màu trắng của Suối Tiên hòa lẫn với màu xanh của mây trời và núi rừng tạo nên một cảnh trí sinh động làm xao xuyến lòng người. Suối Tiên chảy qua nhiều tầng, bậc tạo nên 14 con thác có độ cao khác nhau, trong đó có một số thác cao đến 20m. Dưới chân các thác nước cao là những phiến đá khổng lồ, trải qua thời gian dài bị xói mòn, đã thành những chiếc ao nhỏ mà đáy ao là cả một phiến đá, làm nên vẻ đẹp riêng có ở nơi đây.
Cảnh vật ở đây còn khá hoang sơ nên bạn có thể leo núi, cắm trại, nghỉ dưỡng và thậm chí là nghiên cứu khoa học.
Vườn Quốc gia Xuân Sơn
Vườn quốc gia Xuân Sơn là khu rừng nguyên sinh trên núi đá vôi vẫn còn giữ được rất nhiều nét hoang sơ. Một ngày ở Xuân Sơn khí hậu thay đổi 4 mùa: buổi sáng mát mẻ, trong lành như mùa xuân; buổi trưa ấm áp như mùa hè; buổi chiều hiu hiu như mùa thu; buổi tối trời se lạnh.
Giá trị nhất của Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm ở hệ động thực vật vô cùng phong phú, đa dạng và có giá trị sinh học cao. Ở đây có những cây chò cao bằng toà nhà 20 tầng hay cây gỗ nghiến cổ thụ gốc bạnh to 3 người ôm không xuể…Đến Xuân Sơn, bạn có thể tham quan Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tìm hiểu sự phát triển của các loại động thực vật quý hiếm, khám phá vẻ đẹp của các ngọn núi hay trải nghiệm cảm giác phiêu lưu trong hang động. Ngoài ra, ở đây bạn có thể thưởng thức món đặc sản thịt lợn rừng và rượu Xuân Sơn cay nồng bên bạn bè sẽ rất tuyệt vời.
Núi Thắm
Trên bản đồ hành chính, núi Thắm như giao long uốn mình bao bọc phía Tây xã Khải Xuân (Thanh Ba). Không chỉ tạo địa thế vững trãi cho một vùng đất, núi Thắm còn là chứng tích cho nhiều cuộc đời dâu bể, từ tăm tối bước ra ánh sáng.
Phần khác, vì có hình dáng như đầu rồng nên Núi Thắm còn được gọi là núi Đầu Rồng. Núi dài gần 4km xung quanh có hàng trăm ngọn đồi nằm kề nhau xanh mướt.
Bao đời nay, núi Thắm là biểu tượng thiêng liêng, niềm tự hào và gắn bó mật thiết với người Khải Xuân. Chưa đầy thế kỷ trước, đây còn là vùng rừng núi hoang vu với hệ động, thực vật phong phú, đa dạng. Ngoài các loại gỗ quý như: Đinh, lim, dổi, de, chò chỉ, sến, táu… mọc bạt ngàn, núi Thắm còn là nơi cư trú của nhiều loài thú quý hiếm: Hổ, báo, gấu, hươu, nai…
Đầm Ao Châu
Đầm Ao Châu hay Đầm Ao Trâu là một hồ nước lớn trong xanh nằm trên địa bàn thị trấn Hạ Hòa, xã Ấm Hạ, xã Y Sơn và xã Phụ Khánh thuộc huyện Hạ Hòa, cách thành phố Việt Trì 65 km về phía Tây Bắc. Mặt hồ khoảng 2,2km và có hình dáng như đầu con trâu.
Đầm Ao Châu có 99 ngách, đan cài vào các đồi, núi, thu nước của 99 con suối nhỏ đổ về. Trong hồ có rất nhiều đảo lớn nhỏ, lâu nay đã được nhân dân trong vùng trồng các loại cây ăn quả như vải, nhãn, mít, bưởi...
Đầm Ao Châu có nhiều loại cây kỳ dị và phong cảnh khá huyền bí. Theo truyền thuyết dân gian thì đây là nơi ẩn cư của các binh tướng Thủy Tinh sau khi bị Sơn Tinh đánh bại.Khí hậu khu vực Ao Châu mát mẻ, dễ chịu, không xảy ra hiện tượng nhiệt độ quá thấp trong mùa đông hay thời tiết khô nóng gay gắt trong mùa hè như ở các vùng khác. Không khí trong lành thích hợp cho việc du lịch nghỉ dưỡng.
Hang động Xuân Sơn
Hang động này thuộc xã Xuân Sơn, huyện Thanh Sơn, phía tây tỉnh Phú Thọ. Đây là một quần thể hang động kỳ ảo và nằm sâu trong rừng cây bạt ngàn bí ẩn. Ðộng Tiên là một hang ngầm trong lòng núi đá cẩm thạch dài 10km. Trong hang có đường thông gió lên thẳng đỉnh núi, làm cho không khí trong lành mát dịu. Hồ nước có nhiều loài cá lạ hấp dẫn. Chắc chắn bạn sẽ ngỡ ngàng khi nhìn thấy vẻ đẹp của các nhũ đá ở đây.
Bên cạnh những thắng cảnh này, bạn còn có dịp tham gia nhiều lễ hội khác nhau. Chẳng hạn như Hội bơi chải, Hội rước voi, Hội rước Chúa Gái, Hội ném còn của dân tộc Mường…
Du lịch, GO! - Tổng hợp từ ProGuide.vn, Yeudulich và nhiều nguồn khác
Thứ Tư, 17 tháng 4, 2013
Ở ven trời Tây Bắc có Lai Châu...
Nơi ven trời Tây Bắc có Lai Châu, mảnh đất góp phần tạo nên sự quyến rũ bí ẩn, vẻ đẹp hùng vĩ nguyên sơ của miền Tây Bắc. Sắc màu của các tộc người với nhiều phong tục lạ, núi non trùng điệp quấn quít mây bay, những rừng cây rậm rạp hoang vu,kỳ ảo, những con suối vừa hiền hòa vừa dữ dội len lỏi giữa các khe đá, miên man qua năm tháng với khúc nhạc rừng bất tận đã tạo cho Lai Châu có một không gian đầy cuốn hút.
Khám phá Lai Châu là khám phá vùng đất có một kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đồ sộ, phong phú, đặc sắc của hai mươi dân tộc anh em cùng sinh sống.
Sự đồng điệu, nét đặc thù, điểm chung, nét riêng, dấu ấn của bản sắc văn hóa hiện hình trong nếp sống, trang phục, cách ứng xử giao tiếp hàng ngày của đồng bào các dân tộc. Dễ dàng nhận thấy nét văn hóa phong phú, đa dạng trong mỗi ngôi nhà, mỗi tà áo, vành khăn...
Cô gái Mông tay thoăn thoắt xe lanh, càng thêm hấp dẫn trong tấm khăn Piêu của đồng bào Thái; cô gái Thái, duyên dáng, tinh nghịch, mặt ửng hồng thưởng thức món Thắng cố - đặc sản của đồng bào Mông mỗi dịp lễ tết, hội hè. Chàng trai Dao, chàng trai Mảng, chàng trai Khơ Mú mơ màng cạn bát rượu ngô Sùng Phài, ngào ngạt men say; cô gái kinh đầu mang khăn Piêu, vai khoác túi thổ cẩm rực rỡ uyển chuyển tung quả còn xanh, đỏ lên cây nêu đầu chợ.
Và cả những đêm xòe ngất ngây lòng người. Đó là những đêm các cô gái Thái trong trang phục áo cóm trắng bó sát người với hàng cúc bạc lấp lánh, váy lĩnh đen tuyền uyển chuyển trong tiếng nhạc, những bước chân nhịp nhàng theo tiếng trống, tiếng chiêng rộn rã. Những gương mặt nóng bừng, ngới sáng. Những giọt mồ hôi lăn đều trên đôi má ửng hồng của cô gái vùng cao, ướt đuôi tóc chàng trai bản núi. Dạ tiệc chỉ dừng khi gà gáy chuyển canh. Tiếng bước chân, cùng tiếng nói cười xa gần theo những lối mòn về bản, với bao bịn rịn.
Chợ phiên vùng cao là nơi biểu hiện rất rõ những nét văn hoá đặc trưng ở Lai Châu. Những phiên chợ mang đậm nét sinh hoạt cộng đồng của người dân tộc thiểu số vùng cao Tây Bắc, nó lưu giữ những giá trị bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo. Phiên chợ là nơi người ta gặp gỡ trò chuyện, là nơi khoe sự rực rỡ của vẻ đẹp trang phục, nơi bay bổng của làn điệu xòe quyến rũ lòng người.
< Lễ hội đua ngựa thồ.
Lai Châu còn có nhiều lễ hội mang những nét đặc sắc riêng của từng dân tộc. Hầu hết các lễ hội truyền thống ở Lai Châu đều mang tính chất tín ngưỡng dân gian, việc tổ chức đều do làng, bản chịu trách nhiệm theo một chu kỳ thời gian, mùa vụ nhất định. Các lễ hội không mang nặng yếu tố mê tín dị đoan, chỉ mang ý nghĩa tâm linh, cầu cho mùa màng tươi tốt, cầu sức khoẻ cộng đồng bản mường. Đối tượng được thờ tự tại các lễ hội là các vị thần như thần gốc cây, thần sông suối, thần ruộng nương,....
Người dân tin vào một thế giới thần linh mà thế giới thần linh này là người dìu dắt phần hồn của thế giới trần gian. Qua tổ chức các lễ hội dân gian như thế này người ta thấy lòng mình nhẹ nhõm, gột rửa những điều ác, điều xấu, quên đi những cực nhọc, lo toan của cuộc sống đời thường. Đặc thù lễ hội dân gian ở Lai Châu mang đậm chất thơ ca và diễn xướng dân gian hàm chứa lời dạy bảo con cháu những điều hay lẽ phải, đoàn kết cộng đồng.
< Lễ hội Bun Vốc Nậm (Té nước) ở Lai Châu.
Cùng với lễ hội thường gắn với các trò chơi dân gian dân tộc để cộng đồng bản mường cùng vui chung. Mặc khác, tổ chức lễ hội dân gian của các dân tộc thiểu số còn có ý nghĩa giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, tạo điều kiện để nhân dân tham gia cùng sáng tạo văn hoá. Lễ hội truyền thống ở Lai Châu không phức tạp như các tỉnh miền xuôi, các lễ hội này đều do bản làng tự đứng ra tổ chức, nhân dân tự động đóng góp lễ vật không đáng kể, chủ lễ thường là những người già có uy tín trong cộng đồng, thông tỏ nhiều rất nhiều văn chương truyền miệng.
Dân tộc Thái có lễ hội Then Kim Pang (Mường So, Phong Thổ), tổ chức vào 10-3 âm lịch. Nét đặc sắc của lễ hội này là các nghi lễ tâm linh có các điệu hát then (với 36 bài), múa then (36 bài), nguồn gốc chính của múa nón Thái, xòe Thái ngày nay là bắt nguồn từ đây.
< Lễ hội gầu tào (Grâu Taox) của người Mông.
Dân tộc Mông có lễ hội Grâu Taox (Dào San, Phong Thổ) tổ chức vào ngày 10 tháng giêng âm lịch với nét đặc sắc là hát, múa và ăn thắng cố. Dân tộc Dao có lễ hội qua tang, Tủ Cải tổ chức cúng lễ nghi, báo cáo với tổ tiên. Dân tộc Lự với lễ Căm Mương - rước lễ vật ra rừng "thiêng" làm lễ cúng thần rừng, thần sông suối. Dân tộc Giáy với lễ hội lồng tồng, cầu cho mùa màng tốt tươi, người dân kéo nhau ra đồng chơi các trò chơi dân gian. Dân tộc Cống với lễ hội Cầu mưa, lễ vật đưa ra ven suối để trình lên trời đất cho mưa thuận gió hòa, sau đó tổ chức hội té nước, các trò chơi dân gian, sinh hoạt văn hóa ẩm thực. Dân tộc Hà Nhì với hội hồ sa chứ (hội Ma Gạ thú)...
Nhà ở truyền thống của Lai Châu cũng là một trong những giá trị văn hoá đặc sắc nhất ở vùng đất này. Ngôi nhà truyền thống của từng dân tộc cơ bản vẫn giữ được nét đẹp riêng của mình. Dân tộc Thái ở nhà sàn bằng gỗ, dân tộc Dao, Hà Nhì, Mông ở nhà trình tường bằng đất; dân tộc Mảng, La Hủ vẫn sống cheo leo trên sườn núi, với những mái nhà thấp lợp gianh, vách nứa...
Vốn dân ca, dân nhạc, dân vũ, trường ca sử thi, tín ngưỡng dân gian, ngôn ngữ, chữ viết ở Lai Châu là một kho tàng văn hóa dân gian vô cùng phong phú, quý báu đã tác động đến các hoạt động văn hóa, đến đời sống tinh thần của một tầng lớp nhân dân.
Bên cạnh đó, Lai Châu là một tỉnh có phong cảnh thiên nhiên hữu tình và nhiều di tích lịch sử. Đó là những cao nguyên cao trên 1.500m, mây, sương phủ bốn mùa, khí hậu trong lành, mát lạnh quanh năm như: cao nguyên Sìn Hồ, hồ Thầu, Dào San ...
Đó là suối nước nóng, nước khoáng mà thiên nhiên tặng cho Lai Châu như núi đá Ô, động Tiên (Sìn Hồ); suối nước nóng Vàng Bó (Phong Thổ); suối nước nóng Nà Đông, Nà Đon (Tam Đường); suối nước khoáng (Than Uyên); … và các hồ thuỷ điện lớn khác.
Dinh thự Đèo Văn Long thuộc xã Lê Lợi – huyện Sìn Hồ, là khu dinh thự của ông vua Thái bù nhìn trong kháng chiến chống Pháp. Dinh thự trở thành di tích lịch sử, giáo dục lòng tự hào dân tộc, chứng tích cho việc hạ bệ kẻ cúi đầu làm nô lệ và là nơi thăm quan tìm hiểu những nét kiến trúc đặc trưng, mang bản sắc văn hoá Thái.
Bia Lê Lợi được khắc trên vách đá bờ Bắc sông Đà, nay thuộc xã Lê Lợi – huyện Sìn Hồ. Lại co di chỉ khảo cổ học nền văn minh của người Việt cổ như di tích Nậm Phé, Nậm Tun ở Phong Thổ; tại đây đã tìm thấy công cụ của thời kỳ đồ đá; những công cụ bằng đồng của nền văn hoá Đông Sơn thời đại Hùng Vương…
Có thể nói, thiên nhiên và con ngưòi của vùng đất Lai Châu đã đan xen, hòa quyện trong nhau, kết thành một nền tảng văn hóa đặc thù bền chặt trường tồn với thời gian.
Du lịch, GO! - Theo Cinet. VN, ảnh internet
Khám phá Lai Châu là khám phá vùng đất có một kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đồ sộ, phong phú, đặc sắc của hai mươi dân tộc anh em cùng sinh sống.
Sự đồng điệu, nét đặc thù, điểm chung, nét riêng, dấu ấn của bản sắc văn hóa hiện hình trong nếp sống, trang phục, cách ứng xử giao tiếp hàng ngày của đồng bào các dân tộc. Dễ dàng nhận thấy nét văn hóa phong phú, đa dạng trong mỗi ngôi nhà, mỗi tà áo, vành khăn...
Cô gái Mông tay thoăn thoắt xe lanh, càng thêm hấp dẫn trong tấm khăn Piêu của đồng bào Thái; cô gái Thái, duyên dáng, tinh nghịch, mặt ửng hồng thưởng thức món Thắng cố - đặc sản của đồng bào Mông mỗi dịp lễ tết, hội hè. Chàng trai Dao, chàng trai Mảng, chàng trai Khơ Mú mơ màng cạn bát rượu ngô Sùng Phài, ngào ngạt men say; cô gái kinh đầu mang khăn Piêu, vai khoác túi thổ cẩm rực rỡ uyển chuyển tung quả còn xanh, đỏ lên cây nêu đầu chợ.
Và cả những đêm xòe ngất ngây lòng người. Đó là những đêm các cô gái Thái trong trang phục áo cóm trắng bó sát người với hàng cúc bạc lấp lánh, váy lĩnh đen tuyền uyển chuyển trong tiếng nhạc, những bước chân nhịp nhàng theo tiếng trống, tiếng chiêng rộn rã. Những gương mặt nóng bừng, ngới sáng. Những giọt mồ hôi lăn đều trên đôi má ửng hồng của cô gái vùng cao, ướt đuôi tóc chàng trai bản núi. Dạ tiệc chỉ dừng khi gà gáy chuyển canh. Tiếng bước chân, cùng tiếng nói cười xa gần theo những lối mòn về bản, với bao bịn rịn.
Chợ phiên vùng cao là nơi biểu hiện rất rõ những nét văn hoá đặc trưng ở Lai Châu. Những phiên chợ mang đậm nét sinh hoạt cộng đồng của người dân tộc thiểu số vùng cao Tây Bắc, nó lưu giữ những giá trị bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo. Phiên chợ là nơi người ta gặp gỡ trò chuyện, là nơi khoe sự rực rỡ của vẻ đẹp trang phục, nơi bay bổng của làn điệu xòe quyến rũ lòng người.
< Lễ hội đua ngựa thồ.
Lai Châu còn có nhiều lễ hội mang những nét đặc sắc riêng của từng dân tộc. Hầu hết các lễ hội truyền thống ở Lai Châu đều mang tính chất tín ngưỡng dân gian, việc tổ chức đều do làng, bản chịu trách nhiệm theo một chu kỳ thời gian, mùa vụ nhất định. Các lễ hội không mang nặng yếu tố mê tín dị đoan, chỉ mang ý nghĩa tâm linh, cầu cho mùa màng tươi tốt, cầu sức khoẻ cộng đồng bản mường. Đối tượng được thờ tự tại các lễ hội là các vị thần như thần gốc cây, thần sông suối, thần ruộng nương,....
Người dân tin vào một thế giới thần linh mà thế giới thần linh này là người dìu dắt phần hồn của thế giới trần gian. Qua tổ chức các lễ hội dân gian như thế này người ta thấy lòng mình nhẹ nhõm, gột rửa những điều ác, điều xấu, quên đi những cực nhọc, lo toan của cuộc sống đời thường. Đặc thù lễ hội dân gian ở Lai Châu mang đậm chất thơ ca và diễn xướng dân gian hàm chứa lời dạy bảo con cháu những điều hay lẽ phải, đoàn kết cộng đồng.
< Lễ hội Bun Vốc Nậm (Té nước) ở Lai Châu.
Cùng với lễ hội thường gắn với các trò chơi dân gian dân tộc để cộng đồng bản mường cùng vui chung. Mặc khác, tổ chức lễ hội dân gian của các dân tộc thiểu số còn có ý nghĩa giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, tạo điều kiện để nhân dân tham gia cùng sáng tạo văn hoá. Lễ hội truyền thống ở Lai Châu không phức tạp như các tỉnh miền xuôi, các lễ hội này đều do bản làng tự đứng ra tổ chức, nhân dân tự động đóng góp lễ vật không đáng kể, chủ lễ thường là những người già có uy tín trong cộng đồng, thông tỏ nhiều rất nhiều văn chương truyền miệng.
Dân tộc Thái có lễ hội Then Kim Pang (Mường So, Phong Thổ), tổ chức vào 10-3 âm lịch. Nét đặc sắc của lễ hội này là các nghi lễ tâm linh có các điệu hát then (với 36 bài), múa then (36 bài), nguồn gốc chính của múa nón Thái, xòe Thái ngày nay là bắt nguồn từ đây.
< Lễ hội gầu tào (Grâu Taox) của người Mông.
Dân tộc Mông có lễ hội Grâu Taox (Dào San, Phong Thổ) tổ chức vào ngày 10 tháng giêng âm lịch với nét đặc sắc là hát, múa và ăn thắng cố. Dân tộc Dao có lễ hội qua tang, Tủ Cải tổ chức cúng lễ nghi, báo cáo với tổ tiên. Dân tộc Lự với lễ Căm Mương - rước lễ vật ra rừng "thiêng" làm lễ cúng thần rừng, thần sông suối. Dân tộc Giáy với lễ hội lồng tồng, cầu cho mùa màng tốt tươi, người dân kéo nhau ra đồng chơi các trò chơi dân gian. Dân tộc Cống với lễ hội Cầu mưa, lễ vật đưa ra ven suối để trình lên trời đất cho mưa thuận gió hòa, sau đó tổ chức hội té nước, các trò chơi dân gian, sinh hoạt văn hóa ẩm thực. Dân tộc Hà Nhì với hội hồ sa chứ (hội Ma Gạ thú)...
Nhà ở truyền thống của Lai Châu cũng là một trong những giá trị văn hoá đặc sắc nhất ở vùng đất này. Ngôi nhà truyền thống của từng dân tộc cơ bản vẫn giữ được nét đẹp riêng của mình. Dân tộc Thái ở nhà sàn bằng gỗ, dân tộc Dao, Hà Nhì, Mông ở nhà trình tường bằng đất; dân tộc Mảng, La Hủ vẫn sống cheo leo trên sườn núi, với những mái nhà thấp lợp gianh, vách nứa...
Vốn dân ca, dân nhạc, dân vũ, trường ca sử thi, tín ngưỡng dân gian, ngôn ngữ, chữ viết ở Lai Châu là một kho tàng văn hóa dân gian vô cùng phong phú, quý báu đã tác động đến các hoạt động văn hóa, đến đời sống tinh thần của một tầng lớp nhân dân.
Bên cạnh đó, Lai Châu là một tỉnh có phong cảnh thiên nhiên hữu tình và nhiều di tích lịch sử. Đó là những cao nguyên cao trên 1.500m, mây, sương phủ bốn mùa, khí hậu trong lành, mát lạnh quanh năm như: cao nguyên Sìn Hồ, hồ Thầu, Dào San ...
Đó là suối nước nóng, nước khoáng mà thiên nhiên tặng cho Lai Châu như núi đá Ô, động Tiên (Sìn Hồ); suối nước nóng Vàng Bó (Phong Thổ); suối nước nóng Nà Đông, Nà Đon (Tam Đường); suối nước khoáng (Than Uyên); … và các hồ thuỷ điện lớn khác.
Dinh thự Đèo Văn Long thuộc xã Lê Lợi – huyện Sìn Hồ, là khu dinh thự của ông vua Thái bù nhìn trong kháng chiến chống Pháp. Dinh thự trở thành di tích lịch sử, giáo dục lòng tự hào dân tộc, chứng tích cho việc hạ bệ kẻ cúi đầu làm nô lệ và là nơi thăm quan tìm hiểu những nét kiến trúc đặc trưng, mang bản sắc văn hoá Thái.
Bia Lê Lợi được khắc trên vách đá bờ Bắc sông Đà, nay thuộc xã Lê Lợi – huyện Sìn Hồ. Lại co di chỉ khảo cổ học nền văn minh của người Việt cổ như di tích Nậm Phé, Nậm Tun ở Phong Thổ; tại đây đã tìm thấy công cụ của thời kỳ đồ đá; những công cụ bằng đồng của nền văn hoá Đông Sơn thời đại Hùng Vương…
Có thể nói, thiên nhiên và con ngưòi của vùng đất Lai Châu đã đan xen, hòa quyện trong nhau, kết thành một nền tảng văn hóa đặc thù bền chặt trường tồn với thời gian.
Du lịch, GO! - Theo Cinet. VN, ảnh internet
Văn Chấn mùa ngô lai
Văn Chấn là một huyện miền núi, với điều kiện địa hình đối núi dốc mạnh, lượng mưa lớn tập trung. Do đó, sản xuất nông nghiệp ở Văn Chấn gặp không ít khó khăn, đặc biệt là trồng các loại cây hoa màu như cây ngô.
< Những đồi ngô lai CPA88 ngả vàng báo hiệu mùa thu hoạch sắp đến ở Văn Chấn – Yên Bái.
Nhưng dưới sự hỗ trợ về giống của chính quyền và sự mạnh dạn dám nghĩ, dám làm của người dân nơi đây, những giống ngô lai đã dần vươn mình cắm rễ trên đất Văn Chấn góp phần thay đổi bộ mặt đời sống người dân trong vùng.
< Những bắp ngô lai LVN99 vàng óng với các dãy hạt tròn đều, căng mọng.
Đến Văn Chấn vào thời điểm tháng 5, tháng 6 trong năm, dọc theo con đường quốc lộ từ thành phố Yên Bái đến hết vùng đất Suối Giàng (nơi có những cây chè San tuyết nổi tiếng), thay vì màu xanh của cây, của lá ngô thì đâu đâu cũng bạt ngàn màu vàng của những bắp ngô lai đang vào độ thu hoạch.
< Người Mông thu hoạch ngô trên nương.
Văn Chấn là huyện có diện tích trồng ngô lớn nhất nhì tỉnh Yên Bái với hơn 5000ha đất trồng ngô và chủ yếu tập trung ở các xã: Sơn Thịnh, Cát Thịnh, Suối Giàng, Gia Hội, Sơn Lương, Nậm Mười…
Chúng tôi được anh Hanh, cán bộ phòng Nông nghiệp huyện Văn Chấn đưa đi thăm những vùng trồng ngô tập trung ở các xã trong huyện.
< Nụ cười được mùa ngô của người Mông ở Văn Chấn – Yên Bái.
Đây đang là mùa thu hoạch ngô nên đâu đâu cũng dễ dàng bắt gặp cảnh những hộ gia đình người Tày, người Thái với những đống ngô vàng óng bên căn lều được dựng tạm ngay ở thửa ruộng nhà mình. Những đống ngô này để vận chuyển được về nhà là cả một “hành trình”, bởi ruộng ngô nào cũng nằm chót vót trên những quả đồi, sườn núi cao.
< Con trẻ sung sướng khi nhìn những bắp ngô vàng óng chất đầy sân nhà mình.
Thế nhưng hình ảnh những người dân đi bẻ ngô vui như đi trẩy hội khiến người ta không khỏi ngạc nhiên, thích thú. Tay bẻ, tay tước vỏ mà miệng thì vẫn nói cười, chuyện trò rôm rả. Tôi cảm nhận được niềm vui của một mùa màng bội thu, niềm vui của những người nông dân Văn Chấn yêu lao động sản xuất.
Có gia đình cả dòng họ cùng đi bẻ hộ như gia đình anh Trang A Lử, nhưng lại có gia đình chỉ có hai vợ chồng và một cậu con trai vẫn còn đang lò dò tập bò cũng được bố mẹ cho đi nương như gia đình anh Sổng A Hồng (người Mông, xã Suối Giàng).
< Cả nhà vui mùng khi ngô được mùa.
Sổng A Hồng cho biết: “Năm nay nhà em trồng giống ngô LVN919. Em thấy bắp to, hạt đều kín hết đầu và năng suất hơn giống C99 năm ngoái”. Gia đình A Hồng có gần 5000m2 đất đồi trồng ngô. Và trước khi bắt đầu gieo hạt cho vụ mới, A Hồng cũng như những hộ gia đình khác trong bản đều xuống huyện mua giống của những đại lí bán giống theo cơ cấu giống của huyện. “Bọn em được các đại lí tư vấn là vụ này huyện có giống gì mới, tốt đã được thử nghiệm để lựa chọn có mua và trồng thử trong vụ mới này hay không. Thấy đồn giống nào tốt hơn là em mua về trồng thử”, A Hồng chia sẻ.
< Được mùa ngô, mẹ và con sẽ được no ấm hơn.
Sau đó, anh Hanh dẫn tiếp chúng tôi qua thăm các thửa ruộng trồng thử nghiệm hai giống ngô lai PAC293 và PAC296. Đây là 2 giống ngô lai mới nhất của Công ty Attanta Thái Lan đang được thử nghiệm trên đất đồi Văn Chấn trong vụ xuân hè năm nay. Hai giống ngô này cũng đang vào độ thu hoạch và chuẩn bị được nghiệm thu để xem xét có đủ tiêu chuẩn đưa vào cơ cấu giống của huyện hay không. Do đặc điểm về địa hình đồi núi dốc mạnh nên đặc thù riêng của trồng cây hoa màu trên đất Văn Chấn là để cây cho năng suất cao thì phụ thuộc rất nhiều vào hai yếu tố: thời tiết và giống.
< Giống ngô mới làm cho cuộc sống đồng bào vùng cao Văn Chấn khấm khá hơn.
“Bởi vậy, năm nào huyện cũng liên kết và phối hợp với các công ty giống ngô lai cho trồng thử nghiệm ở một vài thửa ruộng trong huyện. Khi nghiệm thu nếu cây đạt đủ tiêu chuẩn, chịu hạn, chống đổ và cho năng suất cao thì sẽ được cho vào cơ cấu giống của huyện”, anh Hanh cho biết.
Với lý do đó, trong những năm qua, việc chuyển dịch cơ cấu giống, lựa chọn giống có năng suất cao, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu thị trường và phục vụ chăn nuôi luôn được lãnh đạo huyện Văn Chấn rất chú trọng. Với địa hình thổ nhưỡng đặc thù, Văn Chấn đã xác định giống là yếu tố hàng đầu mà địa phương cần chú trọng để giúp bà con nông dân trong huyện đạt năng suất cao hơn trong trồng trọt hoa màu. Và hầu hết các giống ngô lai nổi tiếng trong nước và nước ngoài như LVN99, C919… đều có mặt trên đất đồi Văn Chấn. Gần đây nhất là hai giống ngô lai NK6654, NK4300 được trạm khuyến nông huyện Văn Chấn phối hợp với công ty TNHH Sygenta Việt Nam và công ty Vật tư Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Giang cho trồng khảo nghiệm ở một số xã trong huyện và cho đến nay đều đạt từ năng suất từ 6 - 6,5 tấn/ha. Đây là năm thứ tư giống ngô NK “cắm rễ” trên đất Văn Chấn và liên tiếp được mùa nên nó cũng đang ngày một khẳng định ưu thế vượt trội trên vùng đất đồi này.
< Ngô được cho vào máy để tách hạt.
Giống ngô NK4300 chịu hạn tốt, cây khỏe, bắp to màu hạt đẹp, năng suất cao; Giống ngô NK6654 trồng được 3 vụ/năm, có ưu điểm chịu hạn, chịu úng tốt năng suất trung bình 8 tấn/ha, năng suất tiềm năng có thể đạt tới 12-14 tấn/ha. Đây là hai giống ngô thuộc nhóm trung ngày, có thời gian sinh trưởng từ 105 – 110 ngày. Năng suất thực tế ở mô hình trình diễn tại xã Sơn Lương đạt 9 tấn/ha. Đây cũng là hai giống ngô có lượng tiêu thụ lớn nhất trong toàn tỉnh Yên Bái. Tính 6 tháng đầu năm 2012, lượng tiêu thụ của nó đã vào khoảng 60 tấn.
< Ngô lai sau khi tách hạt.
Ngoài ra, một số giống ngô khác trong huyện cũng cho năng suất cao như CPA88, CP333... Theo đánh giá của các hộ dân tham gia mô hình thử nghiệm giống ngô lai trên đất dốc, CP A88, CP 333 có ưu điểm vượt trội hơn các giống ngô khác đang được triển khai tại địa phương như: phát triển mạnh, tỉ lệ nảy mầm cao, thời gian sinh trưởng ngắn; trỗ cờ phun râu tập trung, lá ngô đứng, ngọn, thân cây to, dẻo; bộ rễ chân kiềng phát triển mạnh, khả năng chống hạn và chống đổ tốt, chống chịu sâu bệnh khá; độ đồng đều cao, hạt mẩy, hạt có mầu vàng cam dạng đá, lõi ngô nhỏ, vỏ bi kín nên hạn chế được sâu bệnh hại.
< Mua bán ngô ở vùng cao Văn Chấn.
Với việc xác định rõ đặc thù của địa phương, chính quyền nơi đây đã có những hướng đi mạnh dạn sáng tạo, luôn tìm tòi đổi mới trong việc lựa chọn, cung ứng những giống ngô lai tốt nhất cho người nông dân. Và với một vùng đất đồi dốc, xác định cây ngô là một trong những cây hoa màu chủ lực của địa phương thì đây đúng là một sự hỗ trợ cần thiết để người nông dân Văn Chấn vươn lên thoát nghèo, xây dựng đời sống kinh tế gia đình ngày một bền vững.
Du lịch, GO! - Theo Thảo Vy - Trịnh Văn Bộ (Vietnam.vnanet)
< Những đồi ngô lai CPA88 ngả vàng báo hiệu mùa thu hoạch sắp đến ở Văn Chấn – Yên Bái.
Nhưng dưới sự hỗ trợ về giống của chính quyền và sự mạnh dạn dám nghĩ, dám làm của người dân nơi đây, những giống ngô lai đã dần vươn mình cắm rễ trên đất Văn Chấn góp phần thay đổi bộ mặt đời sống người dân trong vùng.
< Những bắp ngô lai LVN99 vàng óng với các dãy hạt tròn đều, căng mọng.
Đến Văn Chấn vào thời điểm tháng 5, tháng 6 trong năm, dọc theo con đường quốc lộ từ thành phố Yên Bái đến hết vùng đất Suối Giàng (nơi có những cây chè San tuyết nổi tiếng), thay vì màu xanh của cây, của lá ngô thì đâu đâu cũng bạt ngàn màu vàng của những bắp ngô lai đang vào độ thu hoạch.
< Người Mông thu hoạch ngô trên nương.
Văn Chấn là huyện có diện tích trồng ngô lớn nhất nhì tỉnh Yên Bái với hơn 5000ha đất trồng ngô và chủ yếu tập trung ở các xã: Sơn Thịnh, Cát Thịnh, Suối Giàng, Gia Hội, Sơn Lương, Nậm Mười…
Chúng tôi được anh Hanh, cán bộ phòng Nông nghiệp huyện Văn Chấn đưa đi thăm những vùng trồng ngô tập trung ở các xã trong huyện.
< Nụ cười được mùa ngô của người Mông ở Văn Chấn – Yên Bái.
Đây đang là mùa thu hoạch ngô nên đâu đâu cũng dễ dàng bắt gặp cảnh những hộ gia đình người Tày, người Thái với những đống ngô vàng óng bên căn lều được dựng tạm ngay ở thửa ruộng nhà mình. Những đống ngô này để vận chuyển được về nhà là cả một “hành trình”, bởi ruộng ngô nào cũng nằm chót vót trên những quả đồi, sườn núi cao.
< Con trẻ sung sướng khi nhìn những bắp ngô vàng óng chất đầy sân nhà mình.
Thế nhưng hình ảnh những người dân đi bẻ ngô vui như đi trẩy hội khiến người ta không khỏi ngạc nhiên, thích thú. Tay bẻ, tay tước vỏ mà miệng thì vẫn nói cười, chuyện trò rôm rả. Tôi cảm nhận được niềm vui của một mùa màng bội thu, niềm vui của những người nông dân Văn Chấn yêu lao động sản xuất.
Có gia đình cả dòng họ cùng đi bẻ hộ như gia đình anh Trang A Lử, nhưng lại có gia đình chỉ có hai vợ chồng và một cậu con trai vẫn còn đang lò dò tập bò cũng được bố mẹ cho đi nương như gia đình anh Sổng A Hồng (người Mông, xã Suối Giàng).
< Cả nhà vui mùng khi ngô được mùa.
Sổng A Hồng cho biết: “Năm nay nhà em trồng giống ngô LVN919. Em thấy bắp to, hạt đều kín hết đầu và năng suất hơn giống C99 năm ngoái”. Gia đình A Hồng có gần 5000m2 đất đồi trồng ngô. Và trước khi bắt đầu gieo hạt cho vụ mới, A Hồng cũng như những hộ gia đình khác trong bản đều xuống huyện mua giống của những đại lí bán giống theo cơ cấu giống của huyện. “Bọn em được các đại lí tư vấn là vụ này huyện có giống gì mới, tốt đã được thử nghiệm để lựa chọn có mua và trồng thử trong vụ mới này hay không. Thấy đồn giống nào tốt hơn là em mua về trồng thử”, A Hồng chia sẻ.
< Được mùa ngô, mẹ và con sẽ được no ấm hơn.
Sau đó, anh Hanh dẫn tiếp chúng tôi qua thăm các thửa ruộng trồng thử nghiệm hai giống ngô lai PAC293 và PAC296. Đây là 2 giống ngô lai mới nhất của Công ty Attanta Thái Lan đang được thử nghiệm trên đất đồi Văn Chấn trong vụ xuân hè năm nay. Hai giống ngô này cũng đang vào độ thu hoạch và chuẩn bị được nghiệm thu để xem xét có đủ tiêu chuẩn đưa vào cơ cấu giống của huyện hay không. Do đặc điểm về địa hình đồi núi dốc mạnh nên đặc thù riêng của trồng cây hoa màu trên đất Văn Chấn là để cây cho năng suất cao thì phụ thuộc rất nhiều vào hai yếu tố: thời tiết và giống.
< Giống ngô mới làm cho cuộc sống đồng bào vùng cao Văn Chấn khấm khá hơn.
“Bởi vậy, năm nào huyện cũng liên kết và phối hợp với các công ty giống ngô lai cho trồng thử nghiệm ở một vài thửa ruộng trong huyện. Khi nghiệm thu nếu cây đạt đủ tiêu chuẩn, chịu hạn, chống đổ và cho năng suất cao thì sẽ được cho vào cơ cấu giống của huyện”, anh Hanh cho biết.
Với lý do đó, trong những năm qua, việc chuyển dịch cơ cấu giống, lựa chọn giống có năng suất cao, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu thị trường và phục vụ chăn nuôi luôn được lãnh đạo huyện Văn Chấn rất chú trọng. Với địa hình thổ nhưỡng đặc thù, Văn Chấn đã xác định giống là yếu tố hàng đầu mà địa phương cần chú trọng để giúp bà con nông dân trong huyện đạt năng suất cao hơn trong trồng trọt hoa màu. Và hầu hết các giống ngô lai nổi tiếng trong nước và nước ngoài như LVN99, C919… đều có mặt trên đất đồi Văn Chấn. Gần đây nhất là hai giống ngô lai NK6654, NK4300 được trạm khuyến nông huyện Văn Chấn phối hợp với công ty TNHH Sygenta Việt Nam và công ty Vật tư Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Giang cho trồng khảo nghiệm ở một số xã trong huyện và cho đến nay đều đạt từ năng suất từ 6 - 6,5 tấn/ha. Đây là năm thứ tư giống ngô NK “cắm rễ” trên đất Văn Chấn và liên tiếp được mùa nên nó cũng đang ngày một khẳng định ưu thế vượt trội trên vùng đất đồi này.
< Ngô được cho vào máy để tách hạt.
Giống ngô NK4300 chịu hạn tốt, cây khỏe, bắp to màu hạt đẹp, năng suất cao; Giống ngô NK6654 trồng được 3 vụ/năm, có ưu điểm chịu hạn, chịu úng tốt năng suất trung bình 8 tấn/ha, năng suất tiềm năng có thể đạt tới 12-14 tấn/ha. Đây là hai giống ngô thuộc nhóm trung ngày, có thời gian sinh trưởng từ 105 – 110 ngày. Năng suất thực tế ở mô hình trình diễn tại xã Sơn Lương đạt 9 tấn/ha. Đây cũng là hai giống ngô có lượng tiêu thụ lớn nhất trong toàn tỉnh Yên Bái. Tính 6 tháng đầu năm 2012, lượng tiêu thụ của nó đã vào khoảng 60 tấn.
< Ngô lai sau khi tách hạt.
Ngoài ra, một số giống ngô khác trong huyện cũng cho năng suất cao như CPA88, CP333... Theo đánh giá của các hộ dân tham gia mô hình thử nghiệm giống ngô lai trên đất dốc, CP A88, CP 333 có ưu điểm vượt trội hơn các giống ngô khác đang được triển khai tại địa phương như: phát triển mạnh, tỉ lệ nảy mầm cao, thời gian sinh trưởng ngắn; trỗ cờ phun râu tập trung, lá ngô đứng, ngọn, thân cây to, dẻo; bộ rễ chân kiềng phát triển mạnh, khả năng chống hạn và chống đổ tốt, chống chịu sâu bệnh khá; độ đồng đều cao, hạt mẩy, hạt có mầu vàng cam dạng đá, lõi ngô nhỏ, vỏ bi kín nên hạn chế được sâu bệnh hại.
< Mua bán ngô ở vùng cao Văn Chấn.
Với việc xác định rõ đặc thù của địa phương, chính quyền nơi đây đã có những hướng đi mạnh dạn sáng tạo, luôn tìm tòi đổi mới trong việc lựa chọn, cung ứng những giống ngô lai tốt nhất cho người nông dân. Và với một vùng đất đồi dốc, xác định cây ngô là một trong những cây hoa màu chủ lực của địa phương thì đây đúng là một sự hỗ trợ cần thiết để người nông dân Văn Chấn vươn lên thoát nghèo, xây dựng đời sống kinh tế gia đình ngày một bền vững.
Du lịch, GO! - Theo Thảo Vy - Trịnh Văn Bộ (Vietnam.vnanet)
Làng vĩ cầm duy nhất tại Việt Nam
Làng Then, thuộc xã Thái Đào – Lạng Giang - Bắc Giang, ngôi làng duy nhất tại Việt Nam có truyền thống chơi vĩ cầm suốt gần 60 năm nay. Đây là ngôi làng đã sinh ra những người làm văn hóa – nghệ thuật, âm nhạc như: Trần Vinh, Bùi Đắc Sừ, Quốc Minh, Hà Huy Bái, Lê Văn Khách, Nguyễn Văn Đưa, là những nghệ sĩ, diễn viên, đạo diễn, nhạc công đã nổi danh trên làng văn hóa nghệ thuật.
Cách Hà Nội khoảng 70 km theo đường quốc lộ 1A, làng Then đơn sơ và bình dị, chắc không ai ngờ được đây là ngôi “làng vĩ cầm” độc nhất vô nhị tại Việt Nam, trải qua bao nhiêu thế hệ, đào tạo biết bao nghệ nhân vĩ cầm, nét chất phát của thôn quê và dòng máu nghệ thuật như hòa quyện vào nhau, tạo ra một nét đẹp rất riêng của vùng đất văn hóa này.
Đường làng quanh co và yên tĩnh, chúng tôi hỏi thăm về nhà một nghệ nhân chơi vĩ cầm lâu năm, người ta cười nói: “Làng này chơi vĩ cầm thì nhiều lắm”, rồi nhanh tay chỉ hướng đi. Ông Nguyễn Hữu Hùng, một trong những thế hệ vĩ cầm của làng, ông được làm quen với chiếc đàn từ khi còn trẻ, đến nay đã mấy chục năm, "tôi chơi đàn từ năm 13 tuổi, đến nay cũng vài chục năm rồi, trước trẻ thì ham, giờ có tuổi, cũng nhiều việc phải làm, thỉnh thoảng có thời gian mới tập hợp anh em ngồi chơi violon" -ông chia sẻ.
Rời khỏi nhà ông Hùng, với những câu chuyện về chiến tích của Làng Then về văn hóa nghệ thuật từ thời kháng chiến, ông Hùng nói: "Muốn tìm hiểu thật kĩ về truyền thống chơi vĩ cầm, cô sang gặp ông Nguyễn Hữu Đưa, ông ấy là người thầy đầu tiên dạy chúng tôi, ông học đàn từ những năm 1956, có công đào tạo biết bao thế hệ học trò vĩ cầm của ngôi làng này"
Nhà ông Đưa nằm sâu trong đồi, khi bước tới cổng, tôi bắt gặp một nụ cười rạng rỡ của một cụ bà: "các cháu tìm ai", một cụ ông đang gánh nước vào sân giếng. Biết chúng tôi tìm ông Đưa, bà mời vào nhà uống nước, "khổ, ông già rồi, tai nghe không còn rõ nữa, nhưng kéo đàn vẫn còn minh mẫn lắm" - bà cười nói.
Trong ngôi nhà nhỏ đơn sơ của ông bà, chắc không ai ngờ được cũng chính là lớp dạy violon của ông Đưa, tóc ông đã bạc, tay chân cũng nhăn nheo vì tuổi già, sức yếu, nhưng cứ hễ động đến cây đàn ông lại say sưa kéo đủ các bản nhạc. Trên tường, trong ngăn tủ, đầy những bức ảnh ông đi biểu diễn, những cuốn sách viết những bản nhạc ông yêu thích được lưu giữ cẩn thận mấy chục năm nay. Ông kể: "Ngày xưa, cứ mỗi lần dạy đàn cho mấy đứa trẻ, tôi sáng đạp xe ra Hà Nội chọn đàn, rồi tối lại đem về để hôm sau có đàn cho bọn trẻ học, nhưng giờ già rồi, không đi nổi nữa". Cây đàn ông đang giữ đã theo ông mấy chục năm nay, cứ hễ hỏng ông lại tự ngồi sửa, ông quý cây đàn đó, ví nó đã theo ông suốt cả cuộc đời.
Tiếng vĩ cầm vang dưới lũy tre làng, ông say sưa kể về một thời tuổi trẻ của mình, đến với vĩ cầm cũng là một cái duyên, một niềm đam mê lớn của đời ông, ông đã dành gần cả cuộc đời cống hiến cho nó. "Giờ ông già rồi, có thể quên nọ quên kia, nhưng vĩ cầm chắc không bao giờ quên được"- cụ bà chia sẻ.
Ngôi làng nhỏ, nhưng lưu giữ một truyền thống lớn, về thăm làng Then, du khách có thể thưởng thức âm thanh violon vô cùng mộc mạc của những người dân giản dị nơi đây. Được chiêm ngưỡng những cây đàn lâu đời và được nghe về lịch sử hào hùng trong truyền thống nghệ thuật của làng Then.
- TS Nguyễn Xuân Diện, Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Làng Then chính là quê của nhiều diễn viên, nhạc công nổi tiếng như: đạo diễn - NSND Bùi Đắc Sừ và Hà Quốc Minh (nguyên Giám đốc và đương kim Giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam), nhạc sĩ Trần Vinh (Nhà hát Chèo Việt Nam)… Người già trong làng kể rằng xưa vào mỗi dịp xuân hội, làng mời một gánh tuồng về diễn mấy đêm liền, lại còn mời cả giáo phường ca trù về hát thờ trước cửa đình.
- Nhạc sĩ Phạm Chỉnh, Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa Thông tin Thành phố Hà Nội cho biết rất bất ngờ khi thấy những người nông dân làng Then đọc được tổng phổ và dù tiếng đàn chưa thực sự chuyên nghiệp nhưng cách chơi đã rất chuyên nghiệp. Những người dân làng Then thực sự là những nghệ sĩ rất có phong cách và đầy tính ngẫu hứng.
- GS Lê Văn Cường, Đại học Paris 1, Pháp bảo ông đã đi nhiều nơi trên thế giới nhưng chưa thấy có một làng nào yêu nhạc và có một dàn nhạc độc đáo như làng Then.
Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Nhung (Vietnamnet), SaigonGP...
Cách Hà Nội khoảng 70 km theo đường quốc lộ 1A, làng Then đơn sơ và bình dị, chắc không ai ngờ được đây là ngôi “làng vĩ cầm” độc nhất vô nhị tại Việt Nam, trải qua bao nhiêu thế hệ, đào tạo biết bao nghệ nhân vĩ cầm, nét chất phát của thôn quê và dòng máu nghệ thuật như hòa quyện vào nhau, tạo ra một nét đẹp rất riêng của vùng đất văn hóa này.
Đường làng quanh co và yên tĩnh, chúng tôi hỏi thăm về nhà một nghệ nhân chơi vĩ cầm lâu năm, người ta cười nói: “Làng này chơi vĩ cầm thì nhiều lắm”, rồi nhanh tay chỉ hướng đi. Ông Nguyễn Hữu Hùng, một trong những thế hệ vĩ cầm của làng, ông được làm quen với chiếc đàn từ khi còn trẻ, đến nay đã mấy chục năm, "tôi chơi đàn từ năm 13 tuổi, đến nay cũng vài chục năm rồi, trước trẻ thì ham, giờ có tuổi, cũng nhiều việc phải làm, thỉnh thoảng có thời gian mới tập hợp anh em ngồi chơi violon" -ông chia sẻ.
Rời khỏi nhà ông Hùng, với những câu chuyện về chiến tích của Làng Then về văn hóa nghệ thuật từ thời kháng chiến, ông Hùng nói: "Muốn tìm hiểu thật kĩ về truyền thống chơi vĩ cầm, cô sang gặp ông Nguyễn Hữu Đưa, ông ấy là người thầy đầu tiên dạy chúng tôi, ông học đàn từ những năm 1956, có công đào tạo biết bao thế hệ học trò vĩ cầm của ngôi làng này"
Nhà ông Đưa nằm sâu trong đồi, khi bước tới cổng, tôi bắt gặp một nụ cười rạng rỡ của một cụ bà: "các cháu tìm ai", một cụ ông đang gánh nước vào sân giếng. Biết chúng tôi tìm ông Đưa, bà mời vào nhà uống nước, "khổ, ông già rồi, tai nghe không còn rõ nữa, nhưng kéo đàn vẫn còn minh mẫn lắm" - bà cười nói.
Trong ngôi nhà nhỏ đơn sơ của ông bà, chắc không ai ngờ được cũng chính là lớp dạy violon của ông Đưa, tóc ông đã bạc, tay chân cũng nhăn nheo vì tuổi già, sức yếu, nhưng cứ hễ động đến cây đàn ông lại say sưa kéo đủ các bản nhạc. Trên tường, trong ngăn tủ, đầy những bức ảnh ông đi biểu diễn, những cuốn sách viết những bản nhạc ông yêu thích được lưu giữ cẩn thận mấy chục năm nay. Ông kể: "Ngày xưa, cứ mỗi lần dạy đàn cho mấy đứa trẻ, tôi sáng đạp xe ra Hà Nội chọn đàn, rồi tối lại đem về để hôm sau có đàn cho bọn trẻ học, nhưng giờ già rồi, không đi nổi nữa". Cây đàn ông đang giữ đã theo ông mấy chục năm nay, cứ hễ hỏng ông lại tự ngồi sửa, ông quý cây đàn đó, ví nó đã theo ông suốt cả cuộc đời.
Tiếng vĩ cầm vang dưới lũy tre làng, ông say sưa kể về một thời tuổi trẻ của mình, đến với vĩ cầm cũng là một cái duyên, một niềm đam mê lớn của đời ông, ông đã dành gần cả cuộc đời cống hiến cho nó. "Giờ ông già rồi, có thể quên nọ quên kia, nhưng vĩ cầm chắc không bao giờ quên được"- cụ bà chia sẻ.
Ngôi làng nhỏ, nhưng lưu giữ một truyền thống lớn, về thăm làng Then, du khách có thể thưởng thức âm thanh violon vô cùng mộc mạc của những người dân giản dị nơi đây. Được chiêm ngưỡng những cây đàn lâu đời và được nghe về lịch sử hào hùng trong truyền thống nghệ thuật của làng Then.- TS Nguyễn Xuân Diện, Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Làng Then chính là quê của nhiều diễn viên, nhạc công nổi tiếng như: đạo diễn - NSND Bùi Đắc Sừ và Hà Quốc Minh (nguyên Giám đốc và đương kim Giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam), nhạc sĩ Trần Vinh (Nhà hát Chèo Việt Nam)… Người già trong làng kể rằng xưa vào mỗi dịp xuân hội, làng mời một gánh tuồng về diễn mấy đêm liền, lại còn mời cả giáo phường ca trù về hát thờ trước cửa đình.
- Nhạc sĩ Phạm Chỉnh, Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa Thông tin Thành phố Hà Nội cho biết rất bất ngờ khi thấy những người nông dân làng Then đọc được tổng phổ và dù tiếng đàn chưa thực sự chuyên nghiệp nhưng cách chơi đã rất chuyên nghiệp. Những người dân làng Then thực sự là những nghệ sĩ rất có phong cách và đầy tính ngẫu hứng.
- GS Lê Văn Cường, Đại học Paris 1, Pháp bảo ông đã đi nhiều nơi trên thế giới nhưng chưa thấy có một làng nào yêu nhạc và có một dàn nhạc độc đáo như làng Then.
Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Nhung (Vietnamnet), SaigonGP...
Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013
Cụm di tích Chiến thắng La Ngà
Di tích chiến thắng La Ngà trải dài trên 9km đoạn quốc lộ 20 từ cây số 104 đến 113 qua các xã Phú Ngọc Ngọc Định và Phú Hiệp của huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
< Tượng đài Chiến thắng nhìn từ cầu La Ngà.
Quốc lộ 20 được người Pháp xây dựng từ đầu thứ kỷ 20, là đường giao thông chiến lược nối liền Sài Gòn với Đà Lạt. Từ Đà Lạt còn có nhiều con đường nối với các tỉnh Tây nguyên đến trung Hạ Lào và xuống các tỉnh vùng duyên hải miền Trung.
Thuở ấy, đoạn quốc lộ 20 qua các di tích chiến thắng La Ngà chỉ là con đường trải nhựa nhỏ bé (khoảng 5 - 6 mét) quanh co khúc khuỷu men bên sườn núi, có những đoạn dốc cao kéo dài, độ dốc trung bình từ 10 - 15 độ.
< Cầu La Ngà năm 1969.
Phía đông, đường dốc thoải dần xuống thung lũng, có những chỗ là vực sâu. Phía tây, đường chạy theo những triền núi cao, cách sông Đồng Nai 7km. Hai bên đường toàn rừng già, không có dân cư sinh sống. Buổi sáng có thể nhìn thấy những bãi phân voi to như chiếc rổ rải rác trên mặt đường. Buổi chiều rừng nguyên sinh tĩnh lặng đến độ người ta có thể nghe tiếng xào xạc trên các tán cây hay tiếng bước chân của các loài thú rừng. Vào mùa mưa, sương mù bao trùm cả cánh rừng làm cho môi trường càng âm u, tĩnh lặng.
< Làm chủ trận địa La Ngà trong trận tập kích ngày 1-3-1948.
Ngày 01 tháng 3 năm 1948, sau một thời gian dài chuẩn bị, Chi đội 10 phối hợp với Liên quân 17 phục kích tấn công đoàn xe quân sự Pháp từ Sài Gòn đi Đà Lạt trên lộ 20. Tuyến phục kích trải dài trên 9 km từ cây số 104 đến 113 nay thuộc địa bàn Định Quán. Lực lượng vũ trang cách mạng tập kết quân và bố trí phục kích trên ba mặt trận với tên gọi: A, B, C nhằm khóa đuôi, chăn viện và đánh thẳng vào đoàn xe quân sự địch - Trên các mặt trận được bố trí nhiều địa lôi.
15 giờ 12 phút, chiếc thiết giáp dẫn đầu đoàn xe địch lọt vào trận địa phục kích. Quân cách mạng tấn công, ba trái địa lôi và viên đạn chống tăng gần như nổ cùng một lúc tạo nên một cột lửa khói bao trùm mục tiêu. Chiếc thiết giáp bị đẩy hất lên nằm chắn ngang đường rồi bốc cháy. Chỉ huy đoàn xe cùng bộ phận thông tin bị tiêu diệt tại chỗ. Hai chiếc xe chở lính hộ tống đi tiếp sau đâm sầm vào xác chiếc xe trước bắt lửa cháy luôn. Quân cách mạng dùng hỏa lực tiêu diệt đám lính còn lại và vận động xung phong tấn công trực diện đoàn xe địch trên lộ.
Số xe địch đi sau lọt hẳn vào trận địa và tiếp tục tiến lên, không hay biết về bộ phận đi đầu đã bị tiêu diệt. Khắp cả hai mặt trận B và C, quân ta tập trung hỏa lực vào những xe quân sự, chiến đấu quyết liệt với địch và nhanh chóng làm chủ trận địa. 16 giờ trận đánh kết thúc, 59 xe địch bị tiêu diệt hoàn toàn, 150 lính lê dương đi hộ tống, 25 sĩ quan Pháp, trong đó có đại tá De Sérigné - chỉ huy lữ đoàn lê dương thứ 13 và đại tá Patruit - phó tham mưu trưởng thứ nhất quân viển chinh Pháp ở Đông Dương bị thiệt mạng, trung úy Joeffrey - chỉ huy đội hộ tống bị bắt sống. Cùng với bộ đội Chi đội 10 và liên quân 17, lực lượng vũ trang địa phương tham gia trận đánh rút về căn cứ an toàn.
Chiến thắng La Ngà gây một tiếng vang lớn trong cả nước ta, làm chấn động dư luận nước Pháp. Quốc hội Pháp phải chất vấn chính phủ về trận La Ngà. Viên đại tá Thalès, chỉ huy trưởng khu vực Đồng Nai thượng bị giáng chức nên đã tự tử.
Đây là một chiến thắng quân sự lớn nhất từ đầu cuộc kháng chiến đến lúc bấy giờ của lực lượng vũ trang Biên Hòa. Trận đánh giao thông La Ngà đánh dấu bước tiến vượt bậc về khả năng phối hợp, tổ chức, trình độ chiến thuật, kỹ thuật của lực lượng vũ trang tỉnh Biên Hoà. Các đơn vị tham gia trận đánh được vinh dự nhận Huân chương Quân công hạng II do Bác Hồ trao tặng.
< Tượng đài chiến thắng La Ngà.
Tại chiến trường xưa, trên ngọn đồi Gió bên dòng sông La Ngà, tượng đài Chiến thắng La Ngà được xây dựng như một biểu tượng tình cảm thiêng liêng của hậu thế khắc ghi công lao to lớn của cha ông đã tạo nên một chiến công bất tử, một dấu son chói lọi trong lịch sử đấu tranh của dân tộc. Cụm di tích chiến thắng La Ngà trải dài trên 9 km đoạn quốc lộ 20 từ km 104 đến 113 qua các xã Phú Ngọc, Ngọc Định và Phú Hiệp, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
Cụm di tích tượng đài chiến thắng La Ngà được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích, lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 235/VH- QĐ ngày 12 tháng 12 năm 1986.
Ngày nay, Quốc lộ 20 được mở rộng nâng cấp những cánh rừng nguyên sinh không còn nữa, thay vào đó là những khu dân cư đông vui tấp nập. Bên tả ngạn sông La Ngà, trên đỉnh đồi, là khu công viên tượng đài “Chiến thắng La Ngà” hoành tráng sừng sững giữa bầu trời xanh lộng gió, soi bóng xuống dòng sông.
Hơn 55 năm trôi qua vết tích về một trận đánh giao thông táo bạo, hùng tráng gần như không còn, nhưng âm vang chiến thắng La Ngà vẫn còn đó. Tượng đài La Ngà như một biểu tượng tình cảm thiêng liêng của đất nước khắc ghi công lao to lớn của chiến sĩ đồng bào đã hy sinh góp phần làm nên chiến công vang dội “Chiến thắng La Ngà”. Một mốc son chói lọi của lịch sử đấu tranh dân tộc.
Du lịch, GO! - Tổng hợp từ SVHTT&DL-Đồng Nai và nhiều nguồn thông tin, hình ảnh khác trên internet
< Tượng đài Chiến thắng nhìn từ cầu La Ngà.
Quốc lộ 20 được người Pháp xây dựng từ đầu thứ kỷ 20, là đường giao thông chiến lược nối liền Sài Gòn với Đà Lạt. Từ Đà Lạt còn có nhiều con đường nối với các tỉnh Tây nguyên đến trung Hạ Lào và xuống các tỉnh vùng duyên hải miền Trung.
Thuở ấy, đoạn quốc lộ 20 qua các di tích chiến thắng La Ngà chỉ là con đường trải nhựa nhỏ bé (khoảng 5 - 6 mét) quanh co khúc khuỷu men bên sườn núi, có những đoạn dốc cao kéo dài, độ dốc trung bình từ 10 - 15 độ.< Cầu La Ngà năm 1969.
Phía đông, đường dốc thoải dần xuống thung lũng, có những chỗ là vực sâu. Phía tây, đường chạy theo những triền núi cao, cách sông Đồng Nai 7km. Hai bên đường toàn rừng già, không có dân cư sinh sống. Buổi sáng có thể nhìn thấy những bãi phân voi to như chiếc rổ rải rác trên mặt đường. Buổi chiều rừng nguyên sinh tĩnh lặng đến độ người ta có thể nghe tiếng xào xạc trên các tán cây hay tiếng bước chân của các loài thú rừng. Vào mùa mưa, sương mù bao trùm cả cánh rừng làm cho môi trường càng âm u, tĩnh lặng.
< Làm chủ trận địa La Ngà trong trận tập kích ngày 1-3-1948.
Ngày 01 tháng 3 năm 1948, sau một thời gian dài chuẩn bị, Chi đội 10 phối hợp với Liên quân 17 phục kích tấn công đoàn xe quân sự Pháp từ Sài Gòn đi Đà Lạt trên lộ 20. Tuyến phục kích trải dài trên 9 km từ cây số 104 đến 113 nay thuộc địa bàn Định Quán. Lực lượng vũ trang cách mạng tập kết quân và bố trí phục kích trên ba mặt trận với tên gọi: A, B, C nhằm khóa đuôi, chăn viện và đánh thẳng vào đoàn xe quân sự địch - Trên các mặt trận được bố trí nhiều địa lôi.
15 giờ 12 phút, chiếc thiết giáp dẫn đầu đoàn xe địch lọt vào trận địa phục kích. Quân cách mạng tấn công, ba trái địa lôi và viên đạn chống tăng gần như nổ cùng một lúc tạo nên một cột lửa khói bao trùm mục tiêu. Chiếc thiết giáp bị đẩy hất lên nằm chắn ngang đường rồi bốc cháy. Chỉ huy đoàn xe cùng bộ phận thông tin bị tiêu diệt tại chỗ. Hai chiếc xe chở lính hộ tống đi tiếp sau đâm sầm vào xác chiếc xe trước bắt lửa cháy luôn. Quân cách mạng dùng hỏa lực tiêu diệt đám lính còn lại và vận động xung phong tấn công trực diện đoàn xe địch trên lộ.
Số xe địch đi sau lọt hẳn vào trận địa và tiếp tục tiến lên, không hay biết về bộ phận đi đầu đã bị tiêu diệt. Khắp cả hai mặt trận B và C, quân ta tập trung hỏa lực vào những xe quân sự, chiến đấu quyết liệt với địch và nhanh chóng làm chủ trận địa. 16 giờ trận đánh kết thúc, 59 xe địch bị tiêu diệt hoàn toàn, 150 lính lê dương đi hộ tống, 25 sĩ quan Pháp, trong đó có đại tá De Sérigné - chỉ huy lữ đoàn lê dương thứ 13 và đại tá Patruit - phó tham mưu trưởng thứ nhất quân viển chinh Pháp ở Đông Dương bị thiệt mạng, trung úy Joeffrey - chỉ huy đội hộ tống bị bắt sống. Cùng với bộ đội Chi đội 10 và liên quân 17, lực lượng vũ trang địa phương tham gia trận đánh rút về căn cứ an toàn.
Chiến thắng La Ngà gây một tiếng vang lớn trong cả nước ta, làm chấn động dư luận nước Pháp. Quốc hội Pháp phải chất vấn chính phủ về trận La Ngà. Viên đại tá Thalès, chỉ huy trưởng khu vực Đồng Nai thượng bị giáng chức nên đã tự tử.
Đây là một chiến thắng quân sự lớn nhất từ đầu cuộc kháng chiến đến lúc bấy giờ của lực lượng vũ trang Biên Hòa. Trận đánh giao thông La Ngà đánh dấu bước tiến vượt bậc về khả năng phối hợp, tổ chức, trình độ chiến thuật, kỹ thuật của lực lượng vũ trang tỉnh Biên Hoà. Các đơn vị tham gia trận đánh được vinh dự nhận Huân chương Quân công hạng II do Bác Hồ trao tặng.
< Tượng đài chiến thắng La Ngà.
Tại chiến trường xưa, trên ngọn đồi Gió bên dòng sông La Ngà, tượng đài Chiến thắng La Ngà được xây dựng như một biểu tượng tình cảm thiêng liêng của hậu thế khắc ghi công lao to lớn của cha ông đã tạo nên một chiến công bất tử, một dấu son chói lọi trong lịch sử đấu tranh của dân tộc. Cụm di tích chiến thắng La Ngà trải dài trên 9 km đoạn quốc lộ 20 từ km 104 đến 113 qua các xã Phú Ngọc, Ngọc Định và Phú Hiệp, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
Cụm di tích tượng đài chiến thắng La Ngà được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích, lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 235/VH- QĐ ngày 12 tháng 12 năm 1986.
Ngày nay, Quốc lộ 20 được mở rộng nâng cấp những cánh rừng nguyên sinh không còn nữa, thay vào đó là những khu dân cư đông vui tấp nập. Bên tả ngạn sông La Ngà, trên đỉnh đồi, là khu công viên tượng đài “Chiến thắng La Ngà” hoành tráng sừng sững giữa bầu trời xanh lộng gió, soi bóng xuống dòng sông.
Hơn 55 năm trôi qua vết tích về một trận đánh giao thông táo bạo, hùng tráng gần như không còn, nhưng âm vang chiến thắng La Ngà vẫn còn đó. Tượng đài La Ngà như một biểu tượng tình cảm thiêng liêng của đất nước khắc ghi công lao to lớn của chiến sĩ đồng bào đã hy sinh góp phần làm nên chiến công vang dội “Chiến thắng La Ngà”. Một mốc son chói lọi của lịch sử đấu tranh dân tộc.
Du lịch, GO! - Tổng hợp từ SVHTT&DL-Đồng Nai và nhiều nguồn thông tin, hình ảnh khác trên internet
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)










.jpg)
.jpg)































