Trong lòng Tp. Hồ Chí Minh sôi động, mặc cho bao thế sự thăng trầm, suốt gần 200 năm nay, ở quận Gò Vấp vẫn tồn tại một làng nghề đúc lư đồng nổi tiếng.
< Nghề đúc lư đồng truyền thống của An Hội đã có gần 200 năm nay.
Làng nghề ấy xưa có tên là An Hội, nay là đường Phan Huy Ích ở phường 12, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh. Trải qua thời gian, nhiều làng đúc đồng nổi tiếng ở Tp. Hồ Chí Minh như Chợ Quán, Phú Lâm đã bị mai một và chỉ còn trong ký ức, duy nơi này vẫn còn tồn tại và phát triển cho đến tận bây giờ. Hiện ở đây có khoảng 10 cơ sở chuyên đúc lư đồng theo phương pháp thủ công để cung cấp chủ yếu cho thị trường miền Nam.
< Ngày nay, sản phẩm vẫn được làm theo lối thủ công truyền thống.
Chúng tôi ghé thăm cơ sở sản xuất lư đồng của ông Hai Thắng (Trần Văn Thắng). Gia đình ông làm nghề đúc lư đồng theo lối cha truyền con nối tính cho tới nay cũng đã 4 đời. Ông hào hứng kể: “Xưa kia, vào giai đoạn thịnh vượng, lư đồng làng An Hội được đưa đi bán khắp xứ Nam Kỳ lục tỉnh và sang tận Cao Miên, Lào, Miến Điện…
< Khuôn đúc được làm bằng đất sét trộn với tro và trấu.
Nay tuy nghề không còn thịnh như xưa nhưng tôi vẫn sẽ cố không để nó bị mai một”. Nói đoạn, ông quay sang phía người con trai đang cắm cúi làm và bảo: “Truyền nhân đời thứ 5 nhà tôi đấy. Nó sẽ tiếp tục thay tôi giữ gìn nghề lư đồng này!”.
< Kỹ thuật nặn khuôn đúc khá công phu và tỉ mỉ.
Tết vừa rồi, cơ sở của ông Hai Thắng xuất đi hơn 2000 bộ lư đồng. Tùy từng loại lớn hay nhỏ mà có giá từ 4 triệu đến 20 triệu một bộ. Lư đồng An Hội nổi tiếng khắp vùng vì sản phẩm ở đây rất bền, đẹp và độ bóng bắt mắt.
< Tạo dáng khuôn đúc lư đồng.
Mỗi chiếc lư đồng đều toát lên sự uy nghiêm, trầm mặc qua những họa tiết hoa văn được chạm khắc tinh xảo. Tất cả đều được làm thủ công qua bàn tay khéo léo của những người thợ. Để có một bộ lư bền, màu đồng bóng, đẹp, mỗi lò đúc có những kinh nghiệm khác nhau và người làm nghề đúc đồng cũng phải có bí quyết riêng.
< Tạo đường nét hoa văn trên khuôn đúc.
Nghề làm lư đồng cũng lắm công phu và nhiều công đoạn phức tạp. Do đó người nghệ nhân gần như phải đảm nhiệm hầu hết các công đoạn, từ pha chế nguyên liệu, làm khuôn, đúc, gia công, cho đến kỹ thuật chạm chìm, chạm nổi, chạm lộng hoặc cẩn tam khí. Về cơ bản phải qua 4 công đoạn là làm đất, đổ khuôn, đúc và làm nguội.
< Công đoạn làm nguội, tức làm sạch những chi tiết thừa sau khi đúc.
Cũng theo nghệ nhân Hai Thắng, cách để phân biệt giữa lư đồng làng An Hội và lư đồng sản xuất đại trà theo hình thức công nghiệp cũng không khó lắm.
< Hàn trám những chỗ bị rỗ trên mặt sản phẩm.
< Chỉnh sửa các hoa văn hoạ tiết của sản phẩm.
Lư sản xuất công nghiệp thường có màu vàng xanh, sau vài năm thì xỉn màu; còn lư làng An Hội ửng màu vàng sậm, càng lau chùi thì càng bóng và giữ được màu.
< Ông Hai Thắng với bộ lư đồng truyền thống được đặt trang trọng trên bàn thờ gia tiên.
Đặc biệt, lư đồng An Hội có hình dáng trang nghiêm, cổ kính, đường nét tinh xảo, càng nhìn lâu càng có hồn. Vì thế nó rất được người miền Nam ưa chuộng, chọn mua để trưng bày trên bàn thờ tổ tiên và những nơi thờ phụng trang nghiêm.
< Nhờ có chất đồng tốt nên lư đồng An Hội chỉ cần rửa qua bằng nước lạnh là đã sáng bóng như mới.
Lư đồng An Hội hiện có 2 loại: loại lư Bắc thường có hình dáng tròn trĩnh hoặc bầu dẹp, lư Nam có dáng vuông. Loại hàng chợ, giá thường từ 2 đến 5-6 triệu đồng/bộ và loại hàng đặt, giá dao động từ 5 - 15 triệu đồng/bộ, tùy theo lượng đồng, độ tinh xảo, kỳ công của các họa tiết (rồng phụng, trúc mai, chim hạc, song long hoặc phúc lộc thọ...).
< Lư đồng An Hội có màu vàng sậm đặc trưng.
Hiện nay, Tp. Hồ Chí Minh và những gia đình làm nghề đang thực hiện nhiều giải pháp như hỗ trợ vốn, tìm đầu ra cho sản phẩm… nhằm bảo tồn và phát triển hơn nữa làng nghề cổ xưa này.
< Bộ chén đồng đi kèm với đường nét hoa văn cổ kính và tinh xảo.
Một sản phẩm phải trải qua ba công đoạn chính là làm khuôn, đúc, làm nguội: Người thợ dùng đất sét và sáp tạo khuôn, sau đó nung khuôn, đồng thời nấu chảy đồng rồi rót vào khuôn, cuối cùng là đục chạm hoa văn và đánh bóng sản phẩm. Nếu tính riêng để một bộ sản phẩm hoàn tất thì mất trên 15 ngày công.
Trong cuộc sống hiện đại, nhộn nhịp hôm nay, việc tồn tại những lò đúc đồng thủ công ngay giữa Sài Gòn âu cũng là một điều thú vị.
Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Oanh - Đặng Kim Phương (Báo Ảnh VN), Minh An (SGGP).
Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 17 tháng 4, 2013
Văn Chấn mùa ngô lai
Văn Chấn là một huyện miền núi, với điều kiện địa hình đối núi dốc mạnh, lượng mưa lớn tập trung. Do đó, sản xuất nông nghiệp ở Văn Chấn gặp không ít khó khăn, đặc biệt là trồng các loại cây hoa màu như cây ngô.
< Những đồi ngô lai CPA88 ngả vàng báo hiệu mùa thu hoạch sắp đến ở Văn Chấn – Yên Bái.
Nhưng dưới sự hỗ trợ về giống của chính quyền và sự mạnh dạn dám nghĩ, dám làm của người dân nơi đây, những giống ngô lai đã dần vươn mình cắm rễ trên đất Văn Chấn góp phần thay đổi bộ mặt đời sống người dân trong vùng.
< Những bắp ngô lai LVN99 vàng óng với các dãy hạt tròn đều, căng mọng.
Đến Văn Chấn vào thời điểm tháng 5, tháng 6 trong năm, dọc theo con đường quốc lộ từ thành phố Yên Bái đến hết vùng đất Suối Giàng (nơi có những cây chè San tuyết nổi tiếng), thay vì màu xanh của cây, của lá ngô thì đâu đâu cũng bạt ngàn màu vàng của những bắp ngô lai đang vào độ thu hoạch.
< Người Mông thu hoạch ngô trên nương.
Văn Chấn là huyện có diện tích trồng ngô lớn nhất nhì tỉnh Yên Bái với hơn 5000ha đất trồng ngô và chủ yếu tập trung ở các xã: Sơn Thịnh, Cát Thịnh, Suối Giàng, Gia Hội, Sơn Lương, Nậm Mười…
Chúng tôi được anh Hanh, cán bộ phòng Nông nghiệp huyện Văn Chấn đưa đi thăm những vùng trồng ngô tập trung ở các xã trong huyện.
< Nụ cười được mùa ngô của người Mông ở Văn Chấn – Yên Bái.
Đây đang là mùa thu hoạch ngô nên đâu đâu cũng dễ dàng bắt gặp cảnh những hộ gia đình người Tày, người Thái với những đống ngô vàng óng bên căn lều được dựng tạm ngay ở thửa ruộng nhà mình. Những đống ngô này để vận chuyển được về nhà là cả một “hành trình”, bởi ruộng ngô nào cũng nằm chót vót trên những quả đồi, sườn núi cao.
< Con trẻ sung sướng khi nhìn những bắp ngô vàng óng chất đầy sân nhà mình.
Thế nhưng hình ảnh những người dân đi bẻ ngô vui như đi trẩy hội khiến người ta không khỏi ngạc nhiên, thích thú. Tay bẻ, tay tước vỏ mà miệng thì vẫn nói cười, chuyện trò rôm rả. Tôi cảm nhận được niềm vui của một mùa màng bội thu, niềm vui của những người nông dân Văn Chấn yêu lao động sản xuất.
Có gia đình cả dòng họ cùng đi bẻ hộ như gia đình anh Trang A Lử, nhưng lại có gia đình chỉ có hai vợ chồng và một cậu con trai vẫn còn đang lò dò tập bò cũng được bố mẹ cho đi nương như gia đình anh Sổng A Hồng (người Mông, xã Suối Giàng).
< Cả nhà vui mùng khi ngô được mùa.
Sổng A Hồng cho biết: “Năm nay nhà em trồng giống ngô LVN919. Em thấy bắp to, hạt đều kín hết đầu và năng suất hơn giống C99 năm ngoái”. Gia đình A Hồng có gần 5000m2 đất đồi trồng ngô. Và trước khi bắt đầu gieo hạt cho vụ mới, A Hồng cũng như những hộ gia đình khác trong bản đều xuống huyện mua giống của những đại lí bán giống theo cơ cấu giống của huyện. “Bọn em được các đại lí tư vấn là vụ này huyện có giống gì mới, tốt đã được thử nghiệm để lựa chọn có mua và trồng thử trong vụ mới này hay không. Thấy đồn giống nào tốt hơn là em mua về trồng thử”, A Hồng chia sẻ.
< Được mùa ngô, mẹ và con sẽ được no ấm hơn.
Sau đó, anh Hanh dẫn tiếp chúng tôi qua thăm các thửa ruộng trồng thử nghiệm hai giống ngô lai PAC293 và PAC296. Đây là 2 giống ngô lai mới nhất của Công ty Attanta Thái Lan đang được thử nghiệm trên đất đồi Văn Chấn trong vụ xuân hè năm nay. Hai giống ngô này cũng đang vào độ thu hoạch và chuẩn bị được nghiệm thu để xem xét có đủ tiêu chuẩn đưa vào cơ cấu giống của huyện hay không. Do đặc điểm về địa hình đồi núi dốc mạnh nên đặc thù riêng của trồng cây hoa màu trên đất Văn Chấn là để cây cho năng suất cao thì phụ thuộc rất nhiều vào hai yếu tố: thời tiết và giống.
< Giống ngô mới làm cho cuộc sống đồng bào vùng cao Văn Chấn khấm khá hơn.
“Bởi vậy, năm nào huyện cũng liên kết và phối hợp với các công ty giống ngô lai cho trồng thử nghiệm ở một vài thửa ruộng trong huyện. Khi nghiệm thu nếu cây đạt đủ tiêu chuẩn, chịu hạn, chống đổ và cho năng suất cao thì sẽ được cho vào cơ cấu giống của huyện”, anh Hanh cho biết.
Với lý do đó, trong những năm qua, việc chuyển dịch cơ cấu giống, lựa chọn giống có năng suất cao, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu thị trường và phục vụ chăn nuôi luôn được lãnh đạo huyện Văn Chấn rất chú trọng. Với địa hình thổ nhưỡng đặc thù, Văn Chấn đã xác định giống là yếu tố hàng đầu mà địa phương cần chú trọng để giúp bà con nông dân trong huyện đạt năng suất cao hơn trong trồng trọt hoa màu. Và hầu hết các giống ngô lai nổi tiếng trong nước và nước ngoài như LVN99, C919… đều có mặt trên đất đồi Văn Chấn. Gần đây nhất là hai giống ngô lai NK6654, NK4300 được trạm khuyến nông huyện Văn Chấn phối hợp với công ty TNHH Sygenta Việt Nam và công ty Vật tư Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Giang cho trồng khảo nghiệm ở một số xã trong huyện và cho đến nay đều đạt từ năng suất từ 6 - 6,5 tấn/ha. Đây là năm thứ tư giống ngô NK “cắm rễ” trên đất Văn Chấn và liên tiếp được mùa nên nó cũng đang ngày một khẳng định ưu thế vượt trội trên vùng đất đồi này.
< Ngô được cho vào máy để tách hạt.
Giống ngô NK4300 chịu hạn tốt, cây khỏe, bắp to màu hạt đẹp, năng suất cao; Giống ngô NK6654 trồng được 3 vụ/năm, có ưu điểm chịu hạn, chịu úng tốt năng suất trung bình 8 tấn/ha, năng suất tiềm năng có thể đạt tới 12-14 tấn/ha. Đây là hai giống ngô thuộc nhóm trung ngày, có thời gian sinh trưởng từ 105 – 110 ngày. Năng suất thực tế ở mô hình trình diễn tại xã Sơn Lương đạt 9 tấn/ha. Đây cũng là hai giống ngô có lượng tiêu thụ lớn nhất trong toàn tỉnh Yên Bái. Tính 6 tháng đầu năm 2012, lượng tiêu thụ của nó đã vào khoảng 60 tấn.
< Ngô lai sau khi tách hạt.
Ngoài ra, một số giống ngô khác trong huyện cũng cho năng suất cao như CPA88, CP333... Theo đánh giá của các hộ dân tham gia mô hình thử nghiệm giống ngô lai trên đất dốc, CP A88, CP 333 có ưu điểm vượt trội hơn các giống ngô khác đang được triển khai tại địa phương như: phát triển mạnh, tỉ lệ nảy mầm cao, thời gian sinh trưởng ngắn; trỗ cờ phun râu tập trung, lá ngô đứng, ngọn, thân cây to, dẻo; bộ rễ chân kiềng phát triển mạnh, khả năng chống hạn và chống đổ tốt, chống chịu sâu bệnh khá; độ đồng đều cao, hạt mẩy, hạt có mầu vàng cam dạng đá, lõi ngô nhỏ, vỏ bi kín nên hạn chế được sâu bệnh hại.
< Mua bán ngô ở vùng cao Văn Chấn.
Với việc xác định rõ đặc thù của địa phương, chính quyền nơi đây đã có những hướng đi mạnh dạn sáng tạo, luôn tìm tòi đổi mới trong việc lựa chọn, cung ứng những giống ngô lai tốt nhất cho người nông dân. Và với một vùng đất đồi dốc, xác định cây ngô là một trong những cây hoa màu chủ lực của địa phương thì đây đúng là một sự hỗ trợ cần thiết để người nông dân Văn Chấn vươn lên thoát nghèo, xây dựng đời sống kinh tế gia đình ngày một bền vững.
Du lịch, GO! - Theo Thảo Vy - Trịnh Văn Bộ (Vietnam.vnanet)
< Những đồi ngô lai CPA88 ngả vàng báo hiệu mùa thu hoạch sắp đến ở Văn Chấn – Yên Bái.
Nhưng dưới sự hỗ trợ về giống của chính quyền và sự mạnh dạn dám nghĩ, dám làm của người dân nơi đây, những giống ngô lai đã dần vươn mình cắm rễ trên đất Văn Chấn góp phần thay đổi bộ mặt đời sống người dân trong vùng.
< Những bắp ngô lai LVN99 vàng óng với các dãy hạt tròn đều, căng mọng.
Đến Văn Chấn vào thời điểm tháng 5, tháng 6 trong năm, dọc theo con đường quốc lộ từ thành phố Yên Bái đến hết vùng đất Suối Giàng (nơi có những cây chè San tuyết nổi tiếng), thay vì màu xanh của cây, của lá ngô thì đâu đâu cũng bạt ngàn màu vàng của những bắp ngô lai đang vào độ thu hoạch.
< Người Mông thu hoạch ngô trên nương.
Văn Chấn là huyện có diện tích trồng ngô lớn nhất nhì tỉnh Yên Bái với hơn 5000ha đất trồng ngô và chủ yếu tập trung ở các xã: Sơn Thịnh, Cát Thịnh, Suối Giàng, Gia Hội, Sơn Lương, Nậm Mười…
Chúng tôi được anh Hanh, cán bộ phòng Nông nghiệp huyện Văn Chấn đưa đi thăm những vùng trồng ngô tập trung ở các xã trong huyện.
< Nụ cười được mùa ngô của người Mông ở Văn Chấn – Yên Bái.
Đây đang là mùa thu hoạch ngô nên đâu đâu cũng dễ dàng bắt gặp cảnh những hộ gia đình người Tày, người Thái với những đống ngô vàng óng bên căn lều được dựng tạm ngay ở thửa ruộng nhà mình. Những đống ngô này để vận chuyển được về nhà là cả một “hành trình”, bởi ruộng ngô nào cũng nằm chót vót trên những quả đồi, sườn núi cao.
< Con trẻ sung sướng khi nhìn những bắp ngô vàng óng chất đầy sân nhà mình.
Thế nhưng hình ảnh những người dân đi bẻ ngô vui như đi trẩy hội khiến người ta không khỏi ngạc nhiên, thích thú. Tay bẻ, tay tước vỏ mà miệng thì vẫn nói cười, chuyện trò rôm rả. Tôi cảm nhận được niềm vui của một mùa màng bội thu, niềm vui của những người nông dân Văn Chấn yêu lao động sản xuất.
Có gia đình cả dòng họ cùng đi bẻ hộ như gia đình anh Trang A Lử, nhưng lại có gia đình chỉ có hai vợ chồng và một cậu con trai vẫn còn đang lò dò tập bò cũng được bố mẹ cho đi nương như gia đình anh Sổng A Hồng (người Mông, xã Suối Giàng).
< Cả nhà vui mùng khi ngô được mùa.
Sổng A Hồng cho biết: “Năm nay nhà em trồng giống ngô LVN919. Em thấy bắp to, hạt đều kín hết đầu và năng suất hơn giống C99 năm ngoái”. Gia đình A Hồng có gần 5000m2 đất đồi trồng ngô. Và trước khi bắt đầu gieo hạt cho vụ mới, A Hồng cũng như những hộ gia đình khác trong bản đều xuống huyện mua giống của những đại lí bán giống theo cơ cấu giống của huyện. “Bọn em được các đại lí tư vấn là vụ này huyện có giống gì mới, tốt đã được thử nghiệm để lựa chọn có mua và trồng thử trong vụ mới này hay không. Thấy đồn giống nào tốt hơn là em mua về trồng thử”, A Hồng chia sẻ.
< Được mùa ngô, mẹ và con sẽ được no ấm hơn.
Sau đó, anh Hanh dẫn tiếp chúng tôi qua thăm các thửa ruộng trồng thử nghiệm hai giống ngô lai PAC293 và PAC296. Đây là 2 giống ngô lai mới nhất của Công ty Attanta Thái Lan đang được thử nghiệm trên đất đồi Văn Chấn trong vụ xuân hè năm nay. Hai giống ngô này cũng đang vào độ thu hoạch và chuẩn bị được nghiệm thu để xem xét có đủ tiêu chuẩn đưa vào cơ cấu giống của huyện hay không. Do đặc điểm về địa hình đồi núi dốc mạnh nên đặc thù riêng của trồng cây hoa màu trên đất Văn Chấn là để cây cho năng suất cao thì phụ thuộc rất nhiều vào hai yếu tố: thời tiết và giống.
< Giống ngô mới làm cho cuộc sống đồng bào vùng cao Văn Chấn khấm khá hơn.
“Bởi vậy, năm nào huyện cũng liên kết và phối hợp với các công ty giống ngô lai cho trồng thử nghiệm ở một vài thửa ruộng trong huyện. Khi nghiệm thu nếu cây đạt đủ tiêu chuẩn, chịu hạn, chống đổ và cho năng suất cao thì sẽ được cho vào cơ cấu giống của huyện”, anh Hanh cho biết.
Với lý do đó, trong những năm qua, việc chuyển dịch cơ cấu giống, lựa chọn giống có năng suất cao, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu thị trường và phục vụ chăn nuôi luôn được lãnh đạo huyện Văn Chấn rất chú trọng. Với địa hình thổ nhưỡng đặc thù, Văn Chấn đã xác định giống là yếu tố hàng đầu mà địa phương cần chú trọng để giúp bà con nông dân trong huyện đạt năng suất cao hơn trong trồng trọt hoa màu. Và hầu hết các giống ngô lai nổi tiếng trong nước và nước ngoài như LVN99, C919… đều có mặt trên đất đồi Văn Chấn. Gần đây nhất là hai giống ngô lai NK6654, NK4300 được trạm khuyến nông huyện Văn Chấn phối hợp với công ty TNHH Sygenta Việt Nam và công ty Vật tư Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Giang cho trồng khảo nghiệm ở một số xã trong huyện và cho đến nay đều đạt từ năng suất từ 6 - 6,5 tấn/ha. Đây là năm thứ tư giống ngô NK “cắm rễ” trên đất Văn Chấn và liên tiếp được mùa nên nó cũng đang ngày một khẳng định ưu thế vượt trội trên vùng đất đồi này.
< Ngô được cho vào máy để tách hạt.
Giống ngô NK4300 chịu hạn tốt, cây khỏe, bắp to màu hạt đẹp, năng suất cao; Giống ngô NK6654 trồng được 3 vụ/năm, có ưu điểm chịu hạn, chịu úng tốt năng suất trung bình 8 tấn/ha, năng suất tiềm năng có thể đạt tới 12-14 tấn/ha. Đây là hai giống ngô thuộc nhóm trung ngày, có thời gian sinh trưởng từ 105 – 110 ngày. Năng suất thực tế ở mô hình trình diễn tại xã Sơn Lương đạt 9 tấn/ha. Đây cũng là hai giống ngô có lượng tiêu thụ lớn nhất trong toàn tỉnh Yên Bái. Tính 6 tháng đầu năm 2012, lượng tiêu thụ của nó đã vào khoảng 60 tấn.
< Ngô lai sau khi tách hạt.
Ngoài ra, một số giống ngô khác trong huyện cũng cho năng suất cao như CPA88, CP333... Theo đánh giá của các hộ dân tham gia mô hình thử nghiệm giống ngô lai trên đất dốc, CP A88, CP 333 có ưu điểm vượt trội hơn các giống ngô khác đang được triển khai tại địa phương như: phát triển mạnh, tỉ lệ nảy mầm cao, thời gian sinh trưởng ngắn; trỗ cờ phun râu tập trung, lá ngô đứng, ngọn, thân cây to, dẻo; bộ rễ chân kiềng phát triển mạnh, khả năng chống hạn và chống đổ tốt, chống chịu sâu bệnh khá; độ đồng đều cao, hạt mẩy, hạt có mầu vàng cam dạng đá, lõi ngô nhỏ, vỏ bi kín nên hạn chế được sâu bệnh hại.
< Mua bán ngô ở vùng cao Văn Chấn.
Với việc xác định rõ đặc thù của địa phương, chính quyền nơi đây đã có những hướng đi mạnh dạn sáng tạo, luôn tìm tòi đổi mới trong việc lựa chọn, cung ứng những giống ngô lai tốt nhất cho người nông dân. Và với một vùng đất đồi dốc, xác định cây ngô là một trong những cây hoa màu chủ lực của địa phương thì đây đúng là một sự hỗ trợ cần thiết để người nông dân Văn Chấn vươn lên thoát nghèo, xây dựng đời sống kinh tế gia đình ngày một bền vững.
Du lịch, GO! - Theo Thảo Vy - Trịnh Văn Bộ (Vietnam.vnanet)
Làng vĩ cầm duy nhất tại Việt Nam
Làng Then, thuộc xã Thái Đào – Lạng Giang - Bắc Giang, ngôi làng duy nhất tại Việt Nam có truyền thống chơi vĩ cầm suốt gần 60 năm nay. Đây là ngôi làng đã sinh ra những người làm văn hóa – nghệ thuật, âm nhạc như: Trần Vinh, Bùi Đắc Sừ, Quốc Minh, Hà Huy Bái, Lê Văn Khách, Nguyễn Văn Đưa, là những nghệ sĩ, diễn viên, đạo diễn, nhạc công đã nổi danh trên làng văn hóa nghệ thuật.
Cách Hà Nội khoảng 70 km theo đường quốc lộ 1A, làng Then đơn sơ và bình dị, chắc không ai ngờ được đây là ngôi “làng vĩ cầm” độc nhất vô nhị tại Việt Nam, trải qua bao nhiêu thế hệ, đào tạo biết bao nghệ nhân vĩ cầm, nét chất phát của thôn quê và dòng máu nghệ thuật như hòa quyện vào nhau, tạo ra một nét đẹp rất riêng của vùng đất văn hóa này.
Đường làng quanh co và yên tĩnh, chúng tôi hỏi thăm về nhà một nghệ nhân chơi vĩ cầm lâu năm, người ta cười nói: “Làng này chơi vĩ cầm thì nhiều lắm”, rồi nhanh tay chỉ hướng đi. Ông Nguyễn Hữu Hùng, một trong những thế hệ vĩ cầm của làng, ông được làm quen với chiếc đàn từ khi còn trẻ, đến nay đã mấy chục năm, "tôi chơi đàn từ năm 13 tuổi, đến nay cũng vài chục năm rồi, trước trẻ thì ham, giờ có tuổi, cũng nhiều việc phải làm, thỉnh thoảng có thời gian mới tập hợp anh em ngồi chơi violon" -ông chia sẻ.
Rời khỏi nhà ông Hùng, với những câu chuyện về chiến tích của Làng Then về văn hóa nghệ thuật từ thời kháng chiến, ông Hùng nói: "Muốn tìm hiểu thật kĩ về truyền thống chơi vĩ cầm, cô sang gặp ông Nguyễn Hữu Đưa, ông ấy là người thầy đầu tiên dạy chúng tôi, ông học đàn từ những năm 1956, có công đào tạo biết bao thế hệ học trò vĩ cầm của ngôi làng này"
Nhà ông Đưa nằm sâu trong đồi, khi bước tới cổng, tôi bắt gặp một nụ cười rạng rỡ của một cụ bà: "các cháu tìm ai", một cụ ông đang gánh nước vào sân giếng. Biết chúng tôi tìm ông Đưa, bà mời vào nhà uống nước, "khổ, ông già rồi, tai nghe không còn rõ nữa, nhưng kéo đàn vẫn còn minh mẫn lắm" - bà cười nói.
Trong ngôi nhà nhỏ đơn sơ của ông bà, chắc không ai ngờ được cũng chính là lớp dạy violon của ông Đưa, tóc ông đã bạc, tay chân cũng nhăn nheo vì tuổi già, sức yếu, nhưng cứ hễ động đến cây đàn ông lại say sưa kéo đủ các bản nhạc. Trên tường, trong ngăn tủ, đầy những bức ảnh ông đi biểu diễn, những cuốn sách viết những bản nhạc ông yêu thích được lưu giữ cẩn thận mấy chục năm nay. Ông kể: "Ngày xưa, cứ mỗi lần dạy đàn cho mấy đứa trẻ, tôi sáng đạp xe ra Hà Nội chọn đàn, rồi tối lại đem về để hôm sau có đàn cho bọn trẻ học, nhưng giờ già rồi, không đi nổi nữa". Cây đàn ông đang giữ đã theo ông mấy chục năm nay, cứ hễ hỏng ông lại tự ngồi sửa, ông quý cây đàn đó, ví nó đã theo ông suốt cả cuộc đời.
Tiếng vĩ cầm vang dưới lũy tre làng, ông say sưa kể về một thời tuổi trẻ của mình, đến với vĩ cầm cũng là một cái duyên, một niềm đam mê lớn của đời ông, ông đã dành gần cả cuộc đời cống hiến cho nó. "Giờ ông già rồi, có thể quên nọ quên kia, nhưng vĩ cầm chắc không bao giờ quên được"- cụ bà chia sẻ.
Ngôi làng nhỏ, nhưng lưu giữ một truyền thống lớn, về thăm làng Then, du khách có thể thưởng thức âm thanh violon vô cùng mộc mạc của những người dân giản dị nơi đây. Được chiêm ngưỡng những cây đàn lâu đời và được nghe về lịch sử hào hùng trong truyền thống nghệ thuật của làng Then.
- TS Nguyễn Xuân Diện, Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Làng Then chính là quê của nhiều diễn viên, nhạc công nổi tiếng như: đạo diễn - NSND Bùi Đắc Sừ và Hà Quốc Minh (nguyên Giám đốc và đương kim Giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam), nhạc sĩ Trần Vinh (Nhà hát Chèo Việt Nam)… Người già trong làng kể rằng xưa vào mỗi dịp xuân hội, làng mời một gánh tuồng về diễn mấy đêm liền, lại còn mời cả giáo phường ca trù về hát thờ trước cửa đình.
- Nhạc sĩ Phạm Chỉnh, Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa Thông tin Thành phố Hà Nội cho biết rất bất ngờ khi thấy những người nông dân làng Then đọc được tổng phổ và dù tiếng đàn chưa thực sự chuyên nghiệp nhưng cách chơi đã rất chuyên nghiệp. Những người dân làng Then thực sự là những nghệ sĩ rất có phong cách và đầy tính ngẫu hứng.
- GS Lê Văn Cường, Đại học Paris 1, Pháp bảo ông đã đi nhiều nơi trên thế giới nhưng chưa thấy có một làng nào yêu nhạc và có một dàn nhạc độc đáo như làng Then.
Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Nhung (Vietnamnet), SaigonGP...
Cách Hà Nội khoảng 70 km theo đường quốc lộ 1A, làng Then đơn sơ và bình dị, chắc không ai ngờ được đây là ngôi “làng vĩ cầm” độc nhất vô nhị tại Việt Nam, trải qua bao nhiêu thế hệ, đào tạo biết bao nghệ nhân vĩ cầm, nét chất phát của thôn quê và dòng máu nghệ thuật như hòa quyện vào nhau, tạo ra một nét đẹp rất riêng của vùng đất văn hóa này.
Đường làng quanh co và yên tĩnh, chúng tôi hỏi thăm về nhà một nghệ nhân chơi vĩ cầm lâu năm, người ta cười nói: “Làng này chơi vĩ cầm thì nhiều lắm”, rồi nhanh tay chỉ hướng đi. Ông Nguyễn Hữu Hùng, một trong những thế hệ vĩ cầm của làng, ông được làm quen với chiếc đàn từ khi còn trẻ, đến nay đã mấy chục năm, "tôi chơi đàn từ năm 13 tuổi, đến nay cũng vài chục năm rồi, trước trẻ thì ham, giờ có tuổi, cũng nhiều việc phải làm, thỉnh thoảng có thời gian mới tập hợp anh em ngồi chơi violon" -ông chia sẻ.
Rời khỏi nhà ông Hùng, với những câu chuyện về chiến tích của Làng Then về văn hóa nghệ thuật từ thời kháng chiến, ông Hùng nói: "Muốn tìm hiểu thật kĩ về truyền thống chơi vĩ cầm, cô sang gặp ông Nguyễn Hữu Đưa, ông ấy là người thầy đầu tiên dạy chúng tôi, ông học đàn từ những năm 1956, có công đào tạo biết bao thế hệ học trò vĩ cầm của ngôi làng này"
Nhà ông Đưa nằm sâu trong đồi, khi bước tới cổng, tôi bắt gặp một nụ cười rạng rỡ của một cụ bà: "các cháu tìm ai", một cụ ông đang gánh nước vào sân giếng. Biết chúng tôi tìm ông Đưa, bà mời vào nhà uống nước, "khổ, ông già rồi, tai nghe không còn rõ nữa, nhưng kéo đàn vẫn còn minh mẫn lắm" - bà cười nói.
Trong ngôi nhà nhỏ đơn sơ của ông bà, chắc không ai ngờ được cũng chính là lớp dạy violon của ông Đưa, tóc ông đã bạc, tay chân cũng nhăn nheo vì tuổi già, sức yếu, nhưng cứ hễ động đến cây đàn ông lại say sưa kéo đủ các bản nhạc. Trên tường, trong ngăn tủ, đầy những bức ảnh ông đi biểu diễn, những cuốn sách viết những bản nhạc ông yêu thích được lưu giữ cẩn thận mấy chục năm nay. Ông kể: "Ngày xưa, cứ mỗi lần dạy đàn cho mấy đứa trẻ, tôi sáng đạp xe ra Hà Nội chọn đàn, rồi tối lại đem về để hôm sau có đàn cho bọn trẻ học, nhưng giờ già rồi, không đi nổi nữa". Cây đàn ông đang giữ đã theo ông mấy chục năm nay, cứ hễ hỏng ông lại tự ngồi sửa, ông quý cây đàn đó, ví nó đã theo ông suốt cả cuộc đời.
Tiếng vĩ cầm vang dưới lũy tre làng, ông say sưa kể về một thời tuổi trẻ của mình, đến với vĩ cầm cũng là một cái duyên, một niềm đam mê lớn của đời ông, ông đã dành gần cả cuộc đời cống hiến cho nó. "Giờ ông già rồi, có thể quên nọ quên kia, nhưng vĩ cầm chắc không bao giờ quên được"- cụ bà chia sẻ.
Ngôi làng nhỏ, nhưng lưu giữ một truyền thống lớn, về thăm làng Then, du khách có thể thưởng thức âm thanh violon vô cùng mộc mạc của những người dân giản dị nơi đây. Được chiêm ngưỡng những cây đàn lâu đời và được nghe về lịch sử hào hùng trong truyền thống nghệ thuật của làng Then.- TS Nguyễn Xuân Diện, Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Làng Then chính là quê của nhiều diễn viên, nhạc công nổi tiếng như: đạo diễn - NSND Bùi Đắc Sừ và Hà Quốc Minh (nguyên Giám đốc và đương kim Giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam), nhạc sĩ Trần Vinh (Nhà hát Chèo Việt Nam)… Người già trong làng kể rằng xưa vào mỗi dịp xuân hội, làng mời một gánh tuồng về diễn mấy đêm liền, lại còn mời cả giáo phường ca trù về hát thờ trước cửa đình.
- Nhạc sĩ Phạm Chỉnh, Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa Thông tin Thành phố Hà Nội cho biết rất bất ngờ khi thấy những người nông dân làng Then đọc được tổng phổ và dù tiếng đàn chưa thực sự chuyên nghiệp nhưng cách chơi đã rất chuyên nghiệp. Những người dân làng Then thực sự là những nghệ sĩ rất có phong cách và đầy tính ngẫu hứng.
- GS Lê Văn Cường, Đại học Paris 1, Pháp bảo ông đã đi nhiều nơi trên thế giới nhưng chưa thấy có một làng nào yêu nhạc và có một dàn nhạc độc đáo như làng Then.
Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Nhung (Vietnamnet), SaigonGP...
Thứ Hai, 15 tháng 4, 2013
Độc đáo làng chài trên cao nguyên
Công trình thủy điện, thủy nông Ayun Hạ hoàn thành năm 1994, nằm trên địa bàn 2 huyện Chư Sê và Phú Thiện, tỉnh Gia Lai. Với diện tích mặt nước 37 km², công trình vĩ đại, tuyệt đẹp này không chỉ khiến Gia Lai trở thành vựa lúa của Tây Nguyên, nó còn giúp hàng ngàn nông dân mưu sinh, thoát nghèo bằng nghề đánh bắt cá.
Sung túc nhờ hồ
Những ngày lang thang quanh khu vực hồ Ayun Hạ, một lần đứng trên đỉnh đèo Chư Sê phóng tầm mắt nhìn xuống hồ, tôi mới thực sự ngỡ ngàng trước cảnh thiên nhiên đẹp như một bức tranh. Toàn cảnh bức tranh nền là một màu xanh trù phú.
Hai bên hồ là hai dãy núi sừng sững ôm lấy dòng sông Ayun hiền hòa. Phía dưới là nhà máy thủy điện Ayun Hạ và dòng nước trong xanh chảy theo kênh chính dài ngút tầm mắt, uốn lượn theo những cánh đồng chạy dài xuống thị trấn Ayun Pa tạo nên bức tranh đồng quê tự nhiên, hài hòa. Những mái nhà tranh cất tạm của ngư dân nằm lúp xúp bên bờ hồ. Dưới lòng hồ, những chiếc thuyền của ngư dân lững thững trôi… khung cảnh thật êm đềm.
Hỏi thăm mãi, cuối cùng tôi cũng tìm được nhà của già làng của làng T’lâm, xã Ayun. Năm nay đã gần 80 tuổi, già làng K’puih từng trải qua biết bao thăng trầm của quê hương, từng có những tháng năm dài tham gia nuôi giấu bộ đội trong cả 2 thời kỳ chống Pháp, Mỹ. Đêm đêm, già làng cùng thanh niên trong làng chèo thuyền độc mộc chở bộ đội vượt sông, mai phục dưới chân đèo Tung Kê tiêu diệt kẻ thù.
Già làng khoe: “Từ lúc có hồ đến nay, bà con hết nghèo đói, sống khỏe. Giờ nhiều người thích xuống nước bắt cá hơn lên rừng rồi”. Theo già làng K’puih, chỉ tính riêng xã Ayun đã khoảng hơn 300 hộ làm nghề đánh bắt cá trên hồ. Trẻ con trong làng khi vừa biết đi cũng là lúc phải tập bơi, lên 10 tuổi đã biết câu cá, thậm chí có đứa giăng lưới thành thục, biết canh con nước, ngọn gió để đặt câu, buông lưới. Quả thật, hồ Ayun Hạ đã cho bà con cuộc sống sung túc.
Tôi gặp ngư dân Đ’Breng, ở làng T’Lâm, xã Ayun, giữa lúc anh vừa đi thả lưới về. Tôi ngạc nhiên thấy quần áo anh sũng nước nhưng chẳng thấy cá đâu. Anh cười bảo: “Bây giờ mình chỉ thả lưới xuống thôi, về ngủ 1 giấc rồi sáng dậy sớm đi mang cá về bán thôi”. Tôi hỏi: “Thả lưới không có người trông người khác xuống lấy mất thì sao?”. “Không đâu, ai cũng có mà”, anh thật thà đáp.
Già làng K’puih cũng nói với tôi rằng từ xưa đến giờ chưa từng xảy ra mất trộm lưới. Đ’Breng năm nay gần 50 tuổi và anh chẳng nhớ đã gắn bó với dòng sông từ lúc nào. “Ngày xưa theo cha đi bắt cá dưới sông, cũng có cá. Bây giờ có hồ rồi, nhiều cá lắm, không phải ngược lên thượng nguồn nữa”, anh nói tiếp. “Thả lưới một đêm được bao nhiêu cá?”, tôi hỏi Đ’Breng. Anh đáp: “Nhiều lắm, con nào cũng to, mang nặng vai. Ở đây nhiều người thả lưới giỏi lắm”. Đ’Breng bảo, cách đánh cá của những ngư phủ trên sông Ayun rất khác người. Buổi chiều sau khi đi rẫy về họ chỉ ra sông buông lưới xuống để sáng mai ra thu lưới và mang cá về bán.
Đối diện các làng thuộc xã Ayun, huyện Chư Sê là các làng ngu phủ Kim Piêng, Plei Bông, Plei Trơk, Plei Hek… của xã Chư A Thai, huyện Phú Thiện đang có cuộc sống sung túc nhờ hồ Ayun Hạ.
Buổi chiều, hoàng hôn buông xuống thật nhanh. Những ngôi nhà sàn bắt đầu sáng đèn. Tôi ngỏ ý muốn ở lại một đêm, già làng K’puih gật đầu, cười bảo: “Rừng đủ thức ăn, đủ chỗ ngủ mà”.
Kiêng kỵ khi buông lưới
Buổi sáng, khi mặt trời chưa ló rạng tôi đã giật mình choàng tỉnh bởi tiếng khua mái chèo, tiếng gọi í ới bằng tiếng bản địa. Già làng K’puih đang ngồi thư thái nhìn ra khoảng sân đầy heo gà, miệng phì phèo tẩu thuốc. Tối qua, tôi đã được xúc miệng bằng rượu cần, có vị thuốc, được thưởng thức món cá hồ Auyn Hạ nướng, nấu măng chua, và sau đó, ngủ một giấc thật say trong tiếng ru của cây rừng…
Bên ngoài, bờ hồ tấp nập, mọi người đang hối hả xuống xuồng, đi gỡ lưới. Tôi nhanh chân theo bước theo Đ’Breng. Biết tôi có ý định theo ra hồ, anh bảo: “Hồ sâu lắm, anh có biết bơi không?”, thấy tôi gật đầu, anh tiếp: “Hồ cũng có thần linh cai quản, phải khấn trước nếu không thần không cho xuống, không cho cá đâu”. Nói rồi anh chắp tay, ngửa mặt rì rầm một lát rồi nói: “Xong rồi”.
Chúng tôi bước xuống thuyền. Những chiếc thuyền khác cũng bắt đầu ra sông. Đ’Breng bảo, không chỉ khấn, xin phép thần trước khi ra hồ, còn phải hứa không được làm điều xằng bậy như phóng uế, bắt cá nhỏ, gian lận… Lưới của Đ’Breng thả không xa bờ, nhưng khi anh vừa kéo lên, đã thấy mấy con cá mè khá to giãy giụa.
Suốt thời gian gỡ cá, Đ’Breng không nói một lời. Mẻ cá từ nắm lưới dài chừng 30 m Đ’Breng thu chừng 40 con cá mè, cá lóc, cá trôi. Ước cũng hơn chục ký cá. “Mình bán bao nhiêu tiền một ký?”, tôi hỏi anh. “Có khi 20 ngàn, có khi cao hơn. Tùy hôm, khi nào họ bảo hôm nay cá rẻ thì mua thấp, hôm nào đắt thì họ trả cao”.
Hồ Ayun Hạ có rất nhiều cá. Cá tự nhiên vốn đã nhiều nay được Cty Thuỷ sản miền Trung thả giống chăn nuôi nên cuộc sống của hàng trăm hộ dân sống quanh lòng hồ Ayun Hạ càng sung túc hơn xưa. “Ở đây nhiều cá to lắm. Vì nó sống lâu nên rất khôn. Lưới không bắt được nó đâu. Có khi nó được thần nước bảo vệ rồi cũng nên”, Đ’Breng nói.
Hằng ngày vào buổi trưa, sau khi thuyền đánh bắt cập bến, những xe tải đông lạnh lại chở cá nước ngọt đi khắp mọi miền đất nước. Cá ở đây nhiều vô kể và đa dạng về chủng loại như: trôi, chép, mè, lăng, trắm cỏ… và đặc biệt là cá thát lát, một trong những đặc sản nức tiếng của Gia Lai.
“Hữu xạ tự nhiên hương”, hồ Ayun Hạ và cả những vùng đất xung quanh nó đã trở thành mảnh “đất lành”, thu hút nhiều người đến mưu sinh. Anh Đ’Đôk, một ngư dân mới chuyển đến làng Plei Trơk, xã Ayun va cũng sống nhờ nguồn cá trên hồ nói: Lúc trước, anh sống ở xã H’Bông, huyện Chư Sê nhưng đời sống gặp nhiều khó khăn vì khô hạn, đất đai cằn cỗi.
Nhưng từ lúc chuyển cả gia đình về đây, lòng hồ Ayun Hạ đã giúp anh và cả gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo. “Tôi biết ơn hồ, biết ơn thần linh đã chỉ dường cho tôi gặp hồ, biết ơn nhà nước đã làm hồ nước này cho bà con”.
Ngày xưa, ở các buôn làng Tây Nguyên, ai cũng biết câu ca dao: “Ai về nhắn với nậu nguồn/Măng le gửi xuống cá chuồn gửi lên”. Nhưng bây giờ, câu ca ấy đã đi vào dĩ vãng, chẳng còn ai nhắc đến nữa. Hồ Ayun Hạ đã mang rất nhiều cá đến cho họ rồi, nên họ chỉ gửi sản vật của rừng về xuôi thôi chứ không cần dưới đó gửi cá lên nữa.
Du lịch, GO! - Theo Báo Nông Nghiệp, internet
Sung túc nhờ hồ
Những ngày lang thang quanh khu vực hồ Ayun Hạ, một lần đứng trên đỉnh đèo Chư Sê phóng tầm mắt nhìn xuống hồ, tôi mới thực sự ngỡ ngàng trước cảnh thiên nhiên đẹp như một bức tranh. Toàn cảnh bức tranh nền là một màu xanh trù phú.
Hai bên hồ là hai dãy núi sừng sững ôm lấy dòng sông Ayun hiền hòa. Phía dưới là nhà máy thủy điện Ayun Hạ và dòng nước trong xanh chảy theo kênh chính dài ngút tầm mắt, uốn lượn theo những cánh đồng chạy dài xuống thị trấn Ayun Pa tạo nên bức tranh đồng quê tự nhiên, hài hòa. Những mái nhà tranh cất tạm của ngư dân nằm lúp xúp bên bờ hồ. Dưới lòng hồ, những chiếc thuyền của ngư dân lững thững trôi… khung cảnh thật êm đềm.
Hỏi thăm mãi, cuối cùng tôi cũng tìm được nhà của già làng của làng T’lâm, xã Ayun. Năm nay đã gần 80 tuổi, già làng K’puih từng trải qua biết bao thăng trầm của quê hương, từng có những tháng năm dài tham gia nuôi giấu bộ đội trong cả 2 thời kỳ chống Pháp, Mỹ. Đêm đêm, già làng cùng thanh niên trong làng chèo thuyền độc mộc chở bộ đội vượt sông, mai phục dưới chân đèo Tung Kê tiêu diệt kẻ thù.
Già làng khoe: “Từ lúc có hồ đến nay, bà con hết nghèo đói, sống khỏe. Giờ nhiều người thích xuống nước bắt cá hơn lên rừng rồi”. Theo già làng K’puih, chỉ tính riêng xã Ayun đã khoảng hơn 300 hộ làm nghề đánh bắt cá trên hồ. Trẻ con trong làng khi vừa biết đi cũng là lúc phải tập bơi, lên 10 tuổi đã biết câu cá, thậm chí có đứa giăng lưới thành thục, biết canh con nước, ngọn gió để đặt câu, buông lưới. Quả thật, hồ Ayun Hạ đã cho bà con cuộc sống sung túc.
Tôi gặp ngư dân Đ’Breng, ở làng T’Lâm, xã Ayun, giữa lúc anh vừa đi thả lưới về. Tôi ngạc nhiên thấy quần áo anh sũng nước nhưng chẳng thấy cá đâu. Anh cười bảo: “Bây giờ mình chỉ thả lưới xuống thôi, về ngủ 1 giấc rồi sáng dậy sớm đi mang cá về bán thôi”. Tôi hỏi: “Thả lưới không có người trông người khác xuống lấy mất thì sao?”. “Không đâu, ai cũng có mà”, anh thật thà đáp.
Già làng K’puih cũng nói với tôi rằng từ xưa đến giờ chưa từng xảy ra mất trộm lưới. Đ’Breng năm nay gần 50 tuổi và anh chẳng nhớ đã gắn bó với dòng sông từ lúc nào. “Ngày xưa theo cha đi bắt cá dưới sông, cũng có cá. Bây giờ có hồ rồi, nhiều cá lắm, không phải ngược lên thượng nguồn nữa”, anh nói tiếp. “Thả lưới một đêm được bao nhiêu cá?”, tôi hỏi Đ’Breng. Anh đáp: “Nhiều lắm, con nào cũng to, mang nặng vai. Ở đây nhiều người thả lưới giỏi lắm”. Đ’Breng bảo, cách đánh cá của những ngư phủ trên sông Ayun rất khác người. Buổi chiều sau khi đi rẫy về họ chỉ ra sông buông lưới xuống để sáng mai ra thu lưới và mang cá về bán.
Đối diện các làng thuộc xã Ayun, huyện Chư Sê là các làng ngu phủ Kim Piêng, Plei Bông, Plei Trơk, Plei Hek… của xã Chư A Thai, huyện Phú Thiện đang có cuộc sống sung túc nhờ hồ Ayun Hạ.
Buổi chiều, hoàng hôn buông xuống thật nhanh. Những ngôi nhà sàn bắt đầu sáng đèn. Tôi ngỏ ý muốn ở lại một đêm, già làng K’puih gật đầu, cười bảo: “Rừng đủ thức ăn, đủ chỗ ngủ mà”.
Kiêng kỵ khi buông lưới
Buổi sáng, khi mặt trời chưa ló rạng tôi đã giật mình choàng tỉnh bởi tiếng khua mái chèo, tiếng gọi í ới bằng tiếng bản địa. Già làng K’puih đang ngồi thư thái nhìn ra khoảng sân đầy heo gà, miệng phì phèo tẩu thuốc. Tối qua, tôi đã được xúc miệng bằng rượu cần, có vị thuốc, được thưởng thức món cá hồ Auyn Hạ nướng, nấu măng chua, và sau đó, ngủ một giấc thật say trong tiếng ru của cây rừng…
Bên ngoài, bờ hồ tấp nập, mọi người đang hối hả xuống xuồng, đi gỡ lưới. Tôi nhanh chân theo bước theo Đ’Breng. Biết tôi có ý định theo ra hồ, anh bảo: “Hồ sâu lắm, anh có biết bơi không?”, thấy tôi gật đầu, anh tiếp: “Hồ cũng có thần linh cai quản, phải khấn trước nếu không thần không cho xuống, không cho cá đâu”. Nói rồi anh chắp tay, ngửa mặt rì rầm một lát rồi nói: “Xong rồi”.
Chúng tôi bước xuống thuyền. Những chiếc thuyền khác cũng bắt đầu ra sông. Đ’Breng bảo, không chỉ khấn, xin phép thần trước khi ra hồ, còn phải hứa không được làm điều xằng bậy như phóng uế, bắt cá nhỏ, gian lận… Lưới của Đ’Breng thả không xa bờ, nhưng khi anh vừa kéo lên, đã thấy mấy con cá mè khá to giãy giụa.
Suốt thời gian gỡ cá, Đ’Breng không nói một lời. Mẻ cá từ nắm lưới dài chừng 30 m Đ’Breng thu chừng 40 con cá mè, cá lóc, cá trôi. Ước cũng hơn chục ký cá. “Mình bán bao nhiêu tiền một ký?”, tôi hỏi anh. “Có khi 20 ngàn, có khi cao hơn. Tùy hôm, khi nào họ bảo hôm nay cá rẻ thì mua thấp, hôm nào đắt thì họ trả cao”.Hồ Ayun Hạ có rất nhiều cá. Cá tự nhiên vốn đã nhiều nay được Cty Thuỷ sản miền Trung thả giống chăn nuôi nên cuộc sống của hàng trăm hộ dân sống quanh lòng hồ Ayun Hạ càng sung túc hơn xưa. “Ở đây nhiều cá to lắm. Vì nó sống lâu nên rất khôn. Lưới không bắt được nó đâu. Có khi nó được thần nước bảo vệ rồi cũng nên”, Đ’Breng nói.
Hằng ngày vào buổi trưa, sau khi thuyền đánh bắt cập bến, những xe tải đông lạnh lại chở cá nước ngọt đi khắp mọi miền đất nước. Cá ở đây nhiều vô kể và đa dạng về chủng loại như: trôi, chép, mè, lăng, trắm cỏ… và đặc biệt là cá thát lát, một trong những đặc sản nức tiếng của Gia Lai.“Hữu xạ tự nhiên hương”, hồ Ayun Hạ và cả những vùng đất xung quanh nó đã trở thành mảnh “đất lành”, thu hút nhiều người đến mưu sinh. Anh Đ’Đôk, một ngư dân mới chuyển đến làng Plei Trơk, xã Ayun va cũng sống nhờ nguồn cá trên hồ nói: Lúc trước, anh sống ở xã H’Bông, huyện Chư Sê nhưng đời sống gặp nhiều khó khăn vì khô hạn, đất đai cằn cỗi.
Nhưng từ lúc chuyển cả gia đình về đây, lòng hồ Ayun Hạ đã giúp anh và cả gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo. “Tôi biết ơn hồ, biết ơn thần linh đã chỉ dường cho tôi gặp hồ, biết ơn nhà nước đã làm hồ nước này cho bà con”.
Ngày xưa, ở các buôn làng Tây Nguyên, ai cũng biết câu ca dao: “Ai về nhắn với nậu nguồn/Măng le gửi xuống cá chuồn gửi lên”. Nhưng bây giờ, câu ca ấy đã đi vào dĩ vãng, chẳng còn ai nhắc đến nữa. Hồ Ayun Hạ đã mang rất nhiều cá đến cho họ rồi, nên họ chỉ gửi sản vật của rừng về xuôi thôi chứ không cần dưới đó gửi cá lên nữa.
Du lịch, GO! - Theo Báo Nông Nghiệp, internet
Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2013
Quảng Đức - làng gốm cổ bên bờ sông Cái
Lâu nay, giới chơi cổ vật thường nhắc đến một dòng gốm cổ với nhiều nét riêng độc đáo có nguồn gốc từ làng Quảng Đức, một làng nghề nằm bên bờ sông Cái thuộc xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.
Làng gốm nơi ngã 3 sông
Làng Quảng Đức cách thành phố Tuy Hòa khoảng 30km về phía bắc và cách quốc lộ 1A khoảng 1km về hướng đông. Làng Quảng Đức nằm quay mặt ra ngã ba sông Cái và sông Hà Yến, lưng tựa vào một ngọn núi thấp mang một cái tên khá lạ là núi A Man.
Đây là một làng được hình thành từ lâu đời, địa bạ lập dưới thời Gia Long cho biết Quảng Đức xưa là làng Bạc Mã thuộc huyện Đồng Xuân. Hiện nay tại làng Quảng Đức còn lưu giữ nhiều dấu tích kiến trúc cổ. Đó là dấu tích Văn Thánh miếu thờ Khổng Tử, là chùa Châu Lâm được lập cách đây khoảng 300 năm.
Còn trên sườn phía tây của núi A Man ở sau làng Quảng Đức có một khu nghĩa địa cổ với hàng ngàn ngôi mộ mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là một trong những khu nghĩa địa cổ lớn nhất ở miền Trung. Làng Quảng Đức cũng là quê hương của hòa thượng Liễu Quán. Sách Lịch sử Phật giáo cho biết hòa thượng sinh ở làng Bạc Mã vào năm 1667, lên sáu tuổi xuất gia quy y Phật pháp rồi trở thành bậc cao tăng đã khai sơn chùa Thuyền Tôn ở Huế, đồng thời cũng là người khai sinh dòng thiền Lâm Tế - Liễu Quán rất thịnh hành ở Đàng Trong vào các thế kỷ XVIII, XIX.
Những bằng chứng tìm thấy qua các đợt khảo sát tại làng Quảng Đức cũng như một số di tích cổ ở Phú Yên đã cho thấy ít nhất làng gốm ở Quảng Đức cũng được hình thành vào khoảng thế kỷ XVII, XVIII. Sự ra đời và phát triển nghề gốm ở Quảng Đức gắn liền với vị trí địa lý cũng như tiến trình lịch sử của khu vực hạ lưu sông Cái.
Cuối thế kỷ XVI, Lương Văn Chánh theo lệnh của Nguyễn Hoàng đã đem lưu dân đến khai phá các vùng đất rộng lớn nằm giữa đèo Cù Mông và đèo Cả. Đó là các vùng đất dọc theo các con sông lớn như Cù Mông, Bà Đài (hạ lưu sông Cái), Bà Diễn (hạ lưu sông Đà Rằng), Bà Nông (hạ lưu sông Bàn Thạch).
Vùng hạ lưu sông Cái, nhờ đất đai màu mỡ rất thuận lợi để sản xuất nông nghiệp, là điều kiện quan trọng để hình thành các điểm tụ cư và nhanh chóng phát triển thành các xóm làng đông đúc, trù phú như Tiên Châu, Hội Phú, Bạc Mã, Long Uyên… Cũng chính vì thế mà đến năm 1629, khi phủ Phú Yên được thiết lập thì vùng đất hạ lưu sông Cái trở thành trung tâm về chính trị, văn hóa của vùng đất Phú Yên trong suốt hơn 2 thế kỷ. Dấu tích còn lại của thời kỳ đó là các tòa thành cổ tồn tại cho đến nay như thành Hội Phú - thủ phủ của Phú Yên từ năm 1629 đến năm 1836, thành An Thổ - thủ phủ của Phú Yên từ năm 1836 đến năm 1899.
Ở khu vực này, bên cạnh sản xuất nông nghiệp, đã hình thành một số làng nghề thủ công để phục vụ các nhu cầu thiết yếu của mọi tầng lớp cư dân. Đó là các nghề dệt lụa, làm muối, làm gốm, làm giấy, nung vôi… Đến nay, phần lớn các nghề trên đã không tồn tại nhưng ảnh xạ của nó vẫn còn lưu lại qua tên gọi của các địa danh như Diêm Điền, Phường Lụa, Lò Gốm, Lò Giấy, Lò Vôi…
Làng Quảng Đức nằm ở một vị thế rất tiện lợi về mặt giao thông. Xưa kia, đường thiên lý sau khi vượt sông Cái ở bến đò Cây Dừa đã đi qua làng Quảng Đức rồi tiếp tục xuôi về Nam. Còn đường thủy, từ Quảng Đức xuôi theo dòng sông Cái đi về phía hạ lưu là ra đến cửa Tiên Châu và vịnh Xuân Đài, đó đều là những thương cảng cổ. Theo dòng Hà Yến là vào đầm Ô Loan, nơi có loại sò huyết ngon nổi tiếng “cá mòi Phan Thiết, sò huyết Ô Loan”. Cũng từ Quảng Đức theo dòng sông Cái đi về phía thượng nguồn là đi vào vùng đất rộng lớn phía tây của Phú Yên và một số tỉnh Tây Nguyên. Sự thuận lợi về mặt giao thông đã góp phần đưa các sản phẩm gốm Quảng Đức giao thương đến nhiều vùng miền khác nhau, đồng thời cũng là nhân tố thúc đẩy nghề làm gốm ở Quảng Đức có thêm điều kiện để phát triển. Gốm Quảng Đức đã được tìm thấy ở những nơi rất xa xôi trên vùng đất Tây Nguyên hay cả một số vùng ở Nam bộ.
Gốm Quảng Đức một thời vang bóng.
Sản phẩm gốm Quảng Đức có nhiều loại như vò, chậu, ché, bình vôi, đèn dầu… với nhiều kích cỡ khác nhau. Có loại chỉ cao khoảng 5 – 10cm, nhưng cũng có loại rất lớn. Chẳng hạn như loại chậu trồng bông hoặc ang đựng nước nhiều chiếc có đường kính miệng từ 1m – 1,2m, cao từ 50cm – 70cm. Gốm Quảng Đức được chế tác bằng nhiều kỹ thuật khác nhau như kỹ thuật dùng bàn xoay, kỹ thuật đắp con chạch hoặc làm bằng khuôn. Trong đó, những loại sản phẩm có kích thước nhỏ được làm bằng bàn xoay; loại sản phẩm được lớn làm kiểu đắp con chạch; loại sản phẩm có kích thước trung bình chủ yếu được làm bằng khuôn. Kỹ thuật làm gốm bằng khuôn tạo ra từng bộ phận sau đó gắn chắp lại để thành sản phẩm hoàn chỉnh. Một số loại hoa văn cũng được làm bằng khuôn sau đó áp lên sản phẩm tạo thành các mảng hoa văn nổi với nhiều mô típ sống động, tinh tế.
Một số sản phẩm gốm Quảng Đức là đồ gốm tráng men. Men gốm Quảng Đức được làm từ sò huyết đầm Ô Loan có màu xanh đậm và rất bóng, nhưng đáng chú ý là trên các sản phẩm tráng men đều còn có dấu vỏ sò. Một số nhà nghiên cứu cho rằng thợ thủ công ở Quảng Đức đã chất vỏ sò xung quanh sản phẩm khi nung để tạo men, tức là tạo men bằng kỹ thuật nung chảy trực tiếp.
Quả thật, nếu ý kiến trên đây là chính xác thì kiểu tạo men trên sản phẩm ở Quảng Đức là kỹ thuật độc đáo chưa thấy nói đến và nó cũng chính là điều làm cho dòng sản phẩm gốm Quảng Đức khác biệt với các dòng gốm khác.
Hiện nay, ở Quảng Đức chỉ còn một vài gia đình tiếp tục duy trì nghề làm gốm. Nghề xưa đã mai một nhiều, nhưng vẫn còn đó những dấu tích của làng gốm cổ một thời vang bóng.
Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Danh Hạnh (báo Phú Yên), internet
Làng gốm nơi ngã 3 sông
Làng Quảng Đức cách thành phố Tuy Hòa khoảng 30km về phía bắc và cách quốc lộ 1A khoảng 1km về hướng đông. Làng Quảng Đức nằm quay mặt ra ngã ba sông Cái và sông Hà Yến, lưng tựa vào một ngọn núi thấp mang một cái tên khá lạ là núi A Man.
Đây là một làng được hình thành từ lâu đời, địa bạ lập dưới thời Gia Long cho biết Quảng Đức xưa là làng Bạc Mã thuộc huyện Đồng Xuân. Hiện nay tại làng Quảng Đức còn lưu giữ nhiều dấu tích kiến trúc cổ. Đó là dấu tích Văn Thánh miếu thờ Khổng Tử, là chùa Châu Lâm được lập cách đây khoảng 300 năm.
Còn trên sườn phía tây của núi A Man ở sau làng Quảng Đức có một khu nghĩa địa cổ với hàng ngàn ngôi mộ mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là một trong những khu nghĩa địa cổ lớn nhất ở miền Trung. Làng Quảng Đức cũng là quê hương của hòa thượng Liễu Quán. Sách Lịch sử Phật giáo cho biết hòa thượng sinh ở làng Bạc Mã vào năm 1667, lên sáu tuổi xuất gia quy y Phật pháp rồi trở thành bậc cao tăng đã khai sơn chùa Thuyền Tôn ở Huế, đồng thời cũng là người khai sinh dòng thiền Lâm Tế - Liễu Quán rất thịnh hành ở Đàng Trong vào các thế kỷ XVIII, XIX.
Những bằng chứng tìm thấy qua các đợt khảo sát tại làng Quảng Đức cũng như một số di tích cổ ở Phú Yên đã cho thấy ít nhất làng gốm ở Quảng Đức cũng được hình thành vào khoảng thế kỷ XVII, XVIII. Sự ra đời và phát triển nghề gốm ở Quảng Đức gắn liền với vị trí địa lý cũng như tiến trình lịch sử của khu vực hạ lưu sông Cái.
Cuối thế kỷ XVI, Lương Văn Chánh theo lệnh của Nguyễn Hoàng đã đem lưu dân đến khai phá các vùng đất rộng lớn nằm giữa đèo Cù Mông và đèo Cả. Đó là các vùng đất dọc theo các con sông lớn như Cù Mông, Bà Đài (hạ lưu sông Cái), Bà Diễn (hạ lưu sông Đà Rằng), Bà Nông (hạ lưu sông Bàn Thạch).
Vùng hạ lưu sông Cái, nhờ đất đai màu mỡ rất thuận lợi để sản xuất nông nghiệp, là điều kiện quan trọng để hình thành các điểm tụ cư và nhanh chóng phát triển thành các xóm làng đông đúc, trù phú như Tiên Châu, Hội Phú, Bạc Mã, Long Uyên… Cũng chính vì thế mà đến năm 1629, khi phủ Phú Yên được thiết lập thì vùng đất hạ lưu sông Cái trở thành trung tâm về chính trị, văn hóa của vùng đất Phú Yên trong suốt hơn 2 thế kỷ. Dấu tích còn lại của thời kỳ đó là các tòa thành cổ tồn tại cho đến nay như thành Hội Phú - thủ phủ của Phú Yên từ năm 1629 đến năm 1836, thành An Thổ - thủ phủ của Phú Yên từ năm 1836 đến năm 1899.
Ở khu vực này, bên cạnh sản xuất nông nghiệp, đã hình thành một số làng nghề thủ công để phục vụ các nhu cầu thiết yếu của mọi tầng lớp cư dân. Đó là các nghề dệt lụa, làm muối, làm gốm, làm giấy, nung vôi… Đến nay, phần lớn các nghề trên đã không tồn tại nhưng ảnh xạ của nó vẫn còn lưu lại qua tên gọi của các địa danh như Diêm Điền, Phường Lụa, Lò Gốm, Lò Giấy, Lò Vôi…
Làng Quảng Đức nằm ở một vị thế rất tiện lợi về mặt giao thông. Xưa kia, đường thiên lý sau khi vượt sông Cái ở bến đò Cây Dừa đã đi qua làng Quảng Đức rồi tiếp tục xuôi về Nam. Còn đường thủy, từ Quảng Đức xuôi theo dòng sông Cái đi về phía hạ lưu là ra đến cửa Tiên Châu và vịnh Xuân Đài, đó đều là những thương cảng cổ. Theo dòng Hà Yến là vào đầm Ô Loan, nơi có loại sò huyết ngon nổi tiếng “cá mòi Phan Thiết, sò huyết Ô Loan”. Cũng từ Quảng Đức theo dòng sông Cái đi về phía thượng nguồn là đi vào vùng đất rộng lớn phía tây của Phú Yên và một số tỉnh Tây Nguyên. Sự thuận lợi về mặt giao thông đã góp phần đưa các sản phẩm gốm Quảng Đức giao thương đến nhiều vùng miền khác nhau, đồng thời cũng là nhân tố thúc đẩy nghề làm gốm ở Quảng Đức có thêm điều kiện để phát triển. Gốm Quảng Đức đã được tìm thấy ở những nơi rất xa xôi trên vùng đất Tây Nguyên hay cả một số vùng ở Nam bộ.
Gốm Quảng Đức một thời vang bóng.Sản phẩm gốm Quảng Đức có nhiều loại như vò, chậu, ché, bình vôi, đèn dầu… với nhiều kích cỡ khác nhau. Có loại chỉ cao khoảng 5 – 10cm, nhưng cũng có loại rất lớn. Chẳng hạn như loại chậu trồng bông hoặc ang đựng nước nhiều chiếc có đường kính miệng từ 1m – 1,2m, cao từ 50cm – 70cm. Gốm Quảng Đức được chế tác bằng nhiều kỹ thuật khác nhau như kỹ thuật dùng bàn xoay, kỹ thuật đắp con chạch hoặc làm bằng khuôn. Trong đó, những loại sản phẩm có kích thước nhỏ được làm bằng bàn xoay; loại sản phẩm được lớn làm kiểu đắp con chạch; loại sản phẩm có kích thước trung bình chủ yếu được làm bằng khuôn. Kỹ thuật làm gốm bằng khuôn tạo ra từng bộ phận sau đó gắn chắp lại để thành sản phẩm hoàn chỉnh. Một số loại hoa văn cũng được làm bằng khuôn sau đó áp lên sản phẩm tạo thành các mảng hoa văn nổi với nhiều mô típ sống động, tinh tế.
Một số sản phẩm gốm Quảng Đức là đồ gốm tráng men. Men gốm Quảng Đức được làm từ sò huyết đầm Ô Loan có màu xanh đậm và rất bóng, nhưng đáng chú ý là trên các sản phẩm tráng men đều còn có dấu vỏ sò. Một số nhà nghiên cứu cho rằng thợ thủ công ở Quảng Đức đã chất vỏ sò xung quanh sản phẩm khi nung để tạo men, tức là tạo men bằng kỹ thuật nung chảy trực tiếp.
Quả thật, nếu ý kiến trên đây là chính xác thì kiểu tạo men trên sản phẩm ở Quảng Đức là kỹ thuật độc đáo chưa thấy nói đến và nó cũng chính là điều làm cho dòng sản phẩm gốm Quảng Đức khác biệt với các dòng gốm khác.
Hiện nay, ở Quảng Đức chỉ còn một vài gia đình tiếp tục duy trì nghề làm gốm. Nghề xưa đã mai một nhiều, nhưng vẫn còn đó những dấu tích của làng gốm cổ một thời vang bóng.
Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Danh Hạnh (báo Phú Yên), internet
Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2013
Ngọt ngào thốt nốt vùng Bảy Núi
Đến vùng Bảy Núi ở tỉnh An Giang, đi từ Tịnh Biên cho tới Tri Tôn đâu đâu cũng thấy những cây thốt nốt thân thẳng đứng, cao vút lên trời xanh với chòm lá như đóa hoa khổng lồ, giăng giăng khắp chốn.
Vào mùa khai thác nước thốt nốt, thích nhất là được thưởng thức sản phẩm mang hương rừng gió núi độc đáo của một vùng biên địa xa xôi từ trái thốt nốt.
Thốt nốt là loại cây trồng khoảng ba bốn chục năm mới cao chừng 20 thước. Khi đó cây mới trổ bông vào mùa nắng. Chạng vạng, người ta leo lên thân tre cột sát thân thốt nốt lên tới ngọn, lấy những ống tre đã hong khói diệt khuẩn đeo sau lưng đặt vào vòi bông vừa mới cắt một khúc để lấy dịch.
Từ ngọn cây này chuyền sang ngọn cây khác, họ đặt hết những ống tre ấy rồi nhanh nhẹn leo xuống đất. Rạng sáng hôm sau, họ lại leo lên lấy những ống tre hứng đầy dịch thốt nốt đem về nhà...
Hằng ngày, trên những con đường núi xanh tươi buổi sớm mai, với chiếc đòn gánh trên vai, hai đầu là hai chùm ống đựng đầy nước thốt nốt, các cô gái rong ruổi đi bán khắp nơi.
Chỉ cần vài ngàn đồng là bạn đã được thưởng thức thứ nước ngọt ngào với mùi vị đặc trưng hấp dẫn của thốt nốt. Thứ nước uống nhiều khoái cảm này hiện nay còn được bày bán dài theo các con đường dẫn vào nội ô thị trấn Tri Tôn, khu du lịch Lâm viên Núi Cấm (An Hảo, Tịnh Biên).
Để tăng thêm phần giải nhiệt, giống như nhiều loại nước giải khát khác, nước từ trái thốt nốt được người ta cho vô keo nhựa hoặc chai ướp lạnh. Loại này để lâu được, bán suốt ngày, không như nước thốt nốt đựng ống tre chỉ bán tới khi hửng nắng thì bị chua, mất ngon. Nước thốt nốt còn được người dân địa phương ủ với một thứ cây rừng để lên men, tạo thành một loại bia khá đậm đà.
Nước từ trái thốt nốt còn được cho vào chảo lá sen, vừa nấu trên bếp lò vừa quậy đều tay cho tới khi thành dung dịch màu vàng sệt thì cho vào khuôn, đóng thành cây. Đó là đường thốt nốt. Loại đường này được nhiều du khách mua về nấu chè, thưởng thức hương vị ngọt thanh mà các loại đường khác không có được.
Cùng với nước, cơm thốt nốt cũng là hàng hóa thu hút nhiều khách du lịch phương xa tới đây tham quan. Cơm thốt nốt màu trắng ngà, mềm, dai, giòn giòn, ăn khá khoái khẩu khi cho thêm chút đường và nước đá đập nhuyễn.
Món ngon từ thốt nốt còn có thạch thốt nốt, được cho vào keo nhựa thanh sạch. Loại này chỉ cần ướp lạnh hoặc trộn với đá cây đập nhuyễn là đã cho ta thứ giải khát tuyệt hảo trong những lúc nắng nôi oi ả của mùa hè phương Nam dậy nắng lửa.
Nhưng tuyệt hơn cả là thạch thốt nốt. Loại này đã được các cơ sở sản xuất cho vào keo nhựa. Mua về, bạn chỉ việc mở nắp keo, dùng muỗng múc vừa thạch vừa nước cho vào ly với một ít nước đá đập, vừa quậy đều vừa nhấm nháp một cách sảng khoái.
Độc đáo hơn là bánh thốt nốt. Người ta lấy gạo Nàng nhen – đặc sản Bảy Núi - xay thành bột, ủ một đêm cho lên men, hoặc gạo xay xong, đem phơi khô và cất trong vòng một năm mới cho thứ bánh không mềm nhão. Lấy bột trộn với cơm thốt nốt (lựa cơm dày) và nước thốt nốt rồi gói trong tấm lá chuối theo hình chữ nhật, dẹp như chiếc bánh gói, xong đem hấp. Chừng tiếng đồng hồ, theo hơi nóng bốc ra từ nắp xửng là mùi thơm ngào ngạt gọi mời lan tỏa khắp xung quanh. Mở gói lá ra, bánh thốt nốt có màu vàng sáp trông rất bắt mắt.
Người ta còn làm bánh theo cách khác. Nhà văn Sơn Nam trong quyển “Gốc cây, cục đá và ngôi sao – Danh thắng miền Nam” đã mô tả: “… đặc sản là bánh thốt nốt. Như ta biết, thốt nốt là trái có xớ dày, chứa chất đường ngọt, phải mài xớ vỏ của trái, trộn với bột gạo, gói lại, hấp chín” (NXB Trẻ, 2006, tr. 115, 116). Tuy nhiên, tại chợ cửa khẩu Tịnh Biên, bánh thốt nốt được bán dưới hình thức giống như chiếc bánh bông lan, vàng ươm và đẹp mắt!
Với trái thốt nốt, cư dân vùng biên địa Bảy Núi kiếm sống cũng khấm khá. Đó có thể gọi là mùa “mật” của họ trong những ngày nắng lửa oi nồng.
Du lịch, GO! - Theo Phương Kiều - Thời báo kinh tế Sài Gòn, ảnh internet
Vào mùa khai thác nước thốt nốt, thích nhất là được thưởng thức sản phẩm mang hương rừng gió núi độc đáo của một vùng biên địa xa xôi từ trái thốt nốt.
Thốt nốt là loại cây trồng khoảng ba bốn chục năm mới cao chừng 20 thước. Khi đó cây mới trổ bông vào mùa nắng. Chạng vạng, người ta leo lên thân tre cột sát thân thốt nốt lên tới ngọn, lấy những ống tre đã hong khói diệt khuẩn đeo sau lưng đặt vào vòi bông vừa mới cắt một khúc để lấy dịch.
Từ ngọn cây này chuyền sang ngọn cây khác, họ đặt hết những ống tre ấy rồi nhanh nhẹn leo xuống đất. Rạng sáng hôm sau, họ lại leo lên lấy những ống tre hứng đầy dịch thốt nốt đem về nhà...
Hằng ngày, trên những con đường núi xanh tươi buổi sớm mai, với chiếc đòn gánh trên vai, hai đầu là hai chùm ống đựng đầy nước thốt nốt, các cô gái rong ruổi đi bán khắp nơi.
Chỉ cần vài ngàn đồng là bạn đã được thưởng thức thứ nước ngọt ngào với mùi vị đặc trưng hấp dẫn của thốt nốt. Thứ nước uống nhiều khoái cảm này hiện nay còn được bày bán dài theo các con đường dẫn vào nội ô thị trấn Tri Tôn, khu du lịch Lâm viên Núi Cấm (An Hảo, Tịnh Biên).
Để tăng thêm phần giải nhiệt, giống như nhiều loại nước giải khát khác, nước từ trái thốt nốt được người ta cho vô keo nhựa hoặc chai ướp lạnh. Loại này để lâu được, bán suốt ngày, không như nước thốt nốt đựng ống tre chỉ bán tới khi hửng nắng thì bị chua, mất ngon. Nước thốt nốt còn được người dân địa phương ủ với một thứ cây rừng để lên men, tạo thành một loại bia khá đậm đà.
Nước từ trái thốt nốt còn được cho vào chảo lá sen, vừa nấu trên bếp lò vừa quậy đều tay cho tới khi thành dung dịch màu vàng sệt thì cho vào khuôn, đóng thành cây. Đó là đường thốt nốt. Loại đường này được nhiều du khách mua về nấu chè, thưởng thức hương vị ngọt thanh mà các loại đường khác không có được.
Cùng với nước, cơm thốt nốt cũng là hàng hóa thu hút nhiều khách du lịch phương xa tới đây tham quan. Cơm thốt nốt màu trắng ngà, mềm, dai, giòn giòn, ăn khá khoái khẩu khi cho thêm chút đường và nước đá đập nhuyễn.
Món ngon từ thốt nốt còn có thạch thốt nốt, được cho vào keo nhựa thanh sạch. Loại này chỉ cần ướp lạnh hoặc trộn với đá cây đập nhuyễn là đã cho ta thứ giải khát tuyệt hảo trong những lúc nắng nôi oi ả của mùa hè phương Nam dậy nắng lửa.
Nhưng tuyệt hơn cả là thạch thốt nốt. Loại này đã được các cơ sở sản xuất cho vào keo nhựa. Mua về, bạn chỉ việc mở nắp keo, dùng muỗng múc vừa thạch vừa nước cho vào ly với một ít nước đá đập, vừa quậy đều vừa nhấm nháp một cách sảng khoái.
Độc đáo hơn là bánh thốt nốt. Người ta lấy gạo Nàng nhen – đặc sản Bảy Núi - xay thành bột, ủ một đêm cho lên men, hoặc gạo xay xong, đem phơi khô và cất trong vòng một năm mới cho thứ bánh không mềm nhão. Lấy bột trộn với cơm thốt nốt (lựa cơm dày) và nước thốt nốt rồi gói trong tấm lá chuối theo hình chữ nhật, dẹp như chiếc bánh gói, xong đem hấp. Chừng tiếng đồng hồ, theo hơi nóng bốc ra từ nắp xửng là mùi thơm ngào ngạt gọi mời lan tỏa khắp xung quanh. Mở gói lá ra, bánh thốt nốt có màu vàng sáp trông rất bắt mắt.
Người ta còn làm bánh theo cách khác. Nhà văn Sơn Nam trong quyển “Gốc cây, cục đá và ngôi sao – Danh thắng miền Nam” đã mô tả: “… đặc sản là bánh thốt nốt. Như ta biết, thốt nốt là trái có xớ dày, chứa chất đường ngọt, phải mài xớ vỏ của trái, trộn với bột gạo, gói lại, hấp chín” (NXB Trẻ, 2006, tr. 115, 116). Tuy nhiên, tại chợ cửa khẩu Tịnh Biên, bánh thốt nốt được bán dưới hình thức giống như chiếc bánh bông lan, vàng ươm và đẹp mắt!
Với trái thốt nốt, cư dân vùng biên địa Bảy Núi kiếm sống cũng khấm khá. Đó có thể gọi là mùa “mật” của họ trong những ngày nắng lửa oi nồng.
Du lịch, GO! - Theo Phương Kiều - Thời báo kinh tế Sài Gòn, ảnh internet
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)










































