Chuyến đi Phú Quốc đã qua cách đây hơn cả tháng, nhưng dường như những món hải sản nơi này vẫn còn nằm trong trí nhớ của tôi...
Cá sòng chanh - muối - ớt
Phải là cá sòng còn tươi roi rói (vừa lưới lên, còn sống thì càng tuyệt), nếu cá đã sắp ươn thì không ngon và… hỏng vị. Trước khi thưởng thức món cá nướng tuyệt vời này, ta nên chuẩn bị tươm tất một chút.
Than củi thật khô, vỉ nướng, hoả lò vừa phải, chanh, muối, ớt, bánh tráng mỏng và một dĩa rau sống đủ loại ăn kèm. Cá bắt lên không cần móc mang móc ruột, rửa sơ qua nước biển, để lên rổ một chốc cho thật ráo. Hoả lò đã rực than hồng, đặt vỉ nướng, rồi xếp vài con cá sòng (đừng tham… xếp nhiều, chỉ vài con thôi, vì món này nhấm nháp từ từ mới thú), khêu than và chờ cá chín.
Thường xuyên trở qua trở lại cho cá bén than chín đều, khi thấy hai bên phi lê cá vàng ươm tươm mỡ thơm nức mũi là cá đã chín tới. Nhẹ nhàng nâng cá ra khỏi vỉ nướng, nhẹ nhàng xếp cá lên dĩa và cũng nhẹ nhàng gỡ từng thớ thịt kẹp rau cuốn bánh tráng thưởng thức.
Chấm cuốn bánh tráng gồm hỗn hợp rau và cá sòng nướng vào chén muối ớt chanh (chanh nhiều, ớt nhiều, thêm chút nước, chút bột ngọt - không dùng nước mắm) rồi đưa lên miệng nhai nhè nhẹ mà xem, cả hương rừng vị biển như vừa dừng lại trên đầu lưỡi, rồi tan ra, thấm đẫm vào từng chiếc gai vị giác ngọt ngào. Nhấm thêm chút rượu ngâm quả sim rừng ở đảo, rồi thêm chút cá chút rau, không gian như chợt ngừng trôi, ngày như tan ra cùng những con sóng nhỏ. Biển - trời - đảo chếnh choáng theo chiều…
(Món cá sòng nướng chấm muối ớt chanh này, nếu có thể, thưởng thức ngay bãi biển là tuyệt nhất!)
Gỏi cá trích
Như món cá sòng nướng, cá trích dùng chế biến gỏi cũng thật tươi, vảy còn óng ánh sắc bạc. Cá trích ngư dân vừa bắt lên bằng lưới rùng (lưới mắt nhỏ) đánh vảy rửa sạch, để cho thật ráo rồi lóc lấy phi lê. Vắt chanh nhiều vào tô cá phi lê, trộn đều tay cho cá dần chín tái, sau đó vắt mạnh tay cho thịt cá thật khô là được.
Tiến hành các bước trộn gỏi như những món gỏi cá khác, nhưng ở món gỏi cá trích Phú Quốc, để có được đĩa gỏi cá tinh tươm hấp dẫn, các đầu bếp còn cho thêm những sợi dừa nạo vào. Đĩa gỏi cá trích bê lên có đủ đầy những sắc màu: màu xanh của rau mùi, màu đỏ của ớt sợi, màu trắng xám của cá, màu trắng muốt của dừa, màu vàng nâu của hành phi và màu vàng ươm của đâu phộng giã giập.
Những sắc màu ấy vừa như khêu gợi những gai vị giác vừa như kích thích những tế bào thị giác, nhìn là muốn… cầm đũa ngay! Tuy là gỏi, nhưng món này không ăn kèm bánh đa, bánh phồng và nước mắm chua ngọt mà ăn bằng bánh tráng cuốn rau sống chấm nước mắm đậu phộng. Thịt cá trích còn tươi chín tái không tanh mà ngọt lừ quyện cùng vị beo béo của dừa và đậu phộng, vị cay của ớt, vị thơm của rau mùi - nếm một lần ai cũng nhớ!
Món này thường “hợp rơ” với rượu gạo, “đi với bia” sẽ… lạc điệu, không ngon, có khi còn làm hỏng cả bữa gỏi ngon lành!
Cồi biên mai nướng
Cồi biên mai chính là hai lớp cơ thịt nối liền hai mảnh con sò biên mai. Có thể thấy con sò này lớn cỡ nào nếu bạn cứ hình dung với con sò huyết quá thông dụng ở đất liền có hai bộ phận còi chỉ như cây tăm tre nhỏ thì cồi biên mai lại lớn bằng đồng xu và lớp thịt dày đến nửa lóng tay.
Vậy nhưng các ngư phủ bảo rằng con sò biên mai lớn xác vậy nhưng thịt rất nhão và ăn không ngon. Mọi tinh túy của con vật này chỉ tập trung vào hai cái cồi mà thôi.
Cồi biên mai được ướp cùng bột ngọt, đường, nước mắm, tiêu, tỏi, ớt rồi thêm chút rượu trắng, trộn đều lên và để cho thật dậy mùi. Kiếm chút khô gì đấy nhấm nháp vài li rượu, chờ than hừng đo đỏ và cồi biên mai thấm đều gia vị là nhập tiệc!
Độ qua hai lượt rượu, cồi biên mai đã thấm đẫm gia vị thơm lừng và than cũng vừa đỏ lửa là tiến hành nướng. Cồi biên mai xếp đều lên vỉ, quạt vài lượt cho than đỏ đều nhưng không được nóng quá (nóng quá cục cồi sẽ cháy sém, mất ngon).
Qua thêm một lượt rượu, nhìn lại, những viên cồi biên mai đã bắt đầu tươm mỡ xèo xèo trên vỉ nướng trông mà phát thèm. Mùi cồi biên mai nướng tươm mỡ thơm lừng góc biển. Cục cồi biên mai nướng vàng ươm, dai như thịt gà nhưng mang vị hải sản, độc đáo, lạ miệng và thật đúng là “hàng hiếm”!
Tợp một ly rượu, cho vào miệng ngay một cục cồi biên mai nướng vừa lấy ra khỏi bếp than còn hôi hổi nóng, kẹp thêm vài lá rau sống xanh muớt, chấm chút muối tiêu chanh (hay muối ớt chanh cũng được) rồi nhè nhẹ nhai, và… thú không gì tả được! Món này hơi đắt, hơi “độc” và cực kỳ “bắt” rượu đấy.
Du lịch, GO! - Theo Việt Nam Ngày Mới, internet
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2013
Thứ Năm, 18 tháng 4, 2013
Tiết canh dơi sen, món đặc sản Cầu Kè.
Thị trấn huyện Cầu Kè của tỉnh Trà Vinh không nổi tiếng trên bản đồ du lịch miền Tây nhưng có vài đặc sản khiến du khách khó quên nếu có dịp thưởng thức như gỏi “xái pấu”, “xái pấu” hầm xương (giò, đùi heo...), “xái pấu” chiên hột vịt...; dừa sáp; bún nước lèo; “xim lo”; đặc biệt là món dơi sen.
Đến thị trấn Cầu Kè, hỏi người địa phương thì ai cũng sẽ vui vẻ chỉ đường cho khách đến quán dơi sen dễ dàng. Quán nầy nằm cách trung tâm thị trấn chừng 2 cây số, ở ấp Chông Nô 3 (xã Hòa Tân). Tuy là một quán nhỏ, nhưng thực đơn có đủ một lô “5 món ăn chơi” toàn từ dơi sen: luộc, nướng, khìa, lẩu cháo đậu xanh và gần đây có thêm món mới toanh là tiết canh dơi sen.
Một số người ta cho rằng, dơi sen là động vật hoang dã nên quán làm thịt chúng là phạm luật. Nhưng nói vậy là chưa chính xác, xét ở khía cạnh khác, đó chính là hành vi tích cực bảo vệ môi trường. Vì, dơi sen là loại phá hoại cây trái, mùa màng của nông dân, chẳng kém gì loài chuột. Nên đánh bắt dơi sen là cách tốt nhất để bảo vệ thành quả lao động của nông dân.
Dơi sen là là loại có cánh, đầu như đầu chuột, có lông màu đen, nhỏ hơn dơi quạ, lớn hơn dơi muỗi nên người ta còn gọi là “chuột bay”. Chúng sống thành bầy đàn, ăn trái cây vườn. Khoảng chập tối, người ta chuẩn bị dơi mồi, lưới vợt, giỏ đựng để đi săn bắt chúng. Nếu không có dơi mồi, người ta phải biết cách thổi để dẫn dụ chúng bằng cách dùng lá mì kẹp trong hai bàn tay thổi tạo giả tiếng dơi kêu. Khi dơi mồi hoặc người thổi dẫn dụ được dơi đến thì dùng vợt huơ bắt lấy chúng. Mùa săn bắt dơi sen nhiều nhất là vào mùa trái cây chín rộ. Lúc này, người ta sẽ bắt những chú dơi mập mạp, thịt thơm ngon.
Quán dơi sen ở ấp Chông Nô 3 từ lâu “nức tiếng” với món lẩu cháo dơi sen đậu xanh, vì toàn thực hiện, pha chế từ những con dơi sống. Nay, quán có “chiêu” mới, hấp dẫn ngay những thực khách sành ăn với món tiết canh dơi sen. Dơi sống sau khi lột da, chặt đầu, bóc bỏ ngũ tạng, rửa sạch, người ta bằm cả thịt và xương dơi thật nhỏ. Sau đó bắc chảo lên bếp lửa. Khi chảo nóng, cho dầu hoặc mỡ vào. Dầu hoặc mỡ sôi thì cho thịt dơi bằm vào, xào với củ hành tím, tỏi, khế, rồi nêm gia vị vừa ăn.
Trong khi đó người ta đã chuẩn bị sẵn số tiết lấy từ 10 con dơi, đủ cho một dĩa tiết canh. Tiết lấy được được cho vào một ít nước mắm nhứt cùng một ít nước đun sôi để nguội để “hãm”, không cho đông. Một chiếc dĩa tinh tươm sắp sẵn cà chua xung quanh vành dĩa, cho đẹp, sẵn sàng cho số thịt dơi xào chín trên chảo xúc trải vun lên. Cuối cùng, người ta rưới số tiết dơi đều khắp thịt dơi bằm xào chín rồi rắc ngò gai bằm nhỏ cùng đậu phộng rang bóc bỏ vỏ và những lát ớt sừng trâu đỏ tươi đều khắp trên mặt dĩa tiết canh dơi, thật hấp dẫn trước khi dọn ra bàn.
Trên bàn cũng đã có sẵn dĩa bánh tráng nem cùng dĩa rau thơm với ngò gai, ngò om, húng lủi, quế, hẹ xanh mướt mắt. Cạnh dĩa tiết canh và dĩa rau xanh còn có sự “phụ trợ” của chén nước mắm nhĩ với vài lát ớt sừng trâu thả bồng bềnh, một chén nhỏ muối tiêu, một chén nhỏ ớt sừng trâu, một chén nhỏ chanh cắt miếng và một dĩa nước đun sôi để nguội. Bấy giờ thực khách bắt tay vào thưởng thức “đặc sản” Cầu Kè.
Nhẹ tay gỡ miếng bánh tráng nem, lướt nhẹ mặt nước đun sôi để nguội trong dĩa, rồi trải trên lòng bàn tay. Thực khách gắp sắp các loại rau thơm lên miếng bánh tráng, dùng muỗng xúc tiết canh dơi để chồng lên rau, rồi cuốn tròn lại. Trước khi cho vào miệng, tùy sự khoái thích của thực khách, mà chấm nước mắm hay chấm muối tiêu chanh. Dù là loại nước chấm nào, miếng ngon của tiết canh dơi sen vẫn “nồng nã” hương vị: vừa ngọt, vừa thơm, vừa bùi, vừa béo.... Càng khoái thích hơn khi chiêu một ly “Xuân Thạnh lão tửu”, đặc sản Trà Vinh thơm nồng hương nếp mới.
Du lịch, GO! - Theo Thesaigontimes.vn, ảnh internet
Đến thị trấn Cầu Kè, hỏi người địa phương thì ai cũng sẽ vui vẻ chỉ đường cho khách đến quán dơi sen dễ dàng. Quán nầy nằm cách trung tâm thị trấn chừng 2 cây số, ở ấp Chông Nô 3 (xã Hòa Tân). Tuy là một quán nhỏ, nhưng thực đơn có đủ một lô “5 món ăn chơi” toàn từ dơi sen: luộc, nướng, khìa, lẩu cháo đậu xanh và gần đây có thêm món mới toanh là tiết canh dơi sen.
Một số người ta cho rằng, dơi sen là động vật hoang dã nên quán làm thịt chúng là phạm luật. Nhưng nói vậy là chưa chính xác, xét ở khía cạnh khác, đó chính là hành vi tích cực bảo vệ môi trường. Vì, dơi sen là loại phá hoại cây trái, mùa màng của nông dân, chẳng kém gì loài chuột. Nên đánh bắt dơi sen là cách tốt nhất để bảo vệ thành quả lao động của nông dân.
Dơi sen là là loại có cánh, đầu như đầu chuột, có lông màu đen, nhỏ hơn dơi quạ, lớn hơn dơi muỗi nên người ta còn gọi là “chuột bay”. Chúng sống thành bầy đàn, ăn trái cây vườn. Khoảng chập tối, người ta chuẩn bị dơi mồi, lưới vợt, giỏ đựng để đi săn bắt chúng. Nếu không có dơi mồi, người ta phải biết cách thổi để dẫn dụ chúng bằng cách dùng lá mì kẹp trong hai bàn tay thổi tạo giả tiếng dơi kêu. Khi dơi mồi hoặc người thổi dẫn dụ được dơi đến thì dùng vợt huơ bắt lấy chúng. Mùa săn bắt dơi sen nhiều nhất là vào mùa trái cây chín rộ. Lúc này, người ta sẽ bắt những chú dơi mập mạp, thịt thơm ngon.
Quán dơi sen ở ấp Chông Nô 3 từ lâu “nức tiếng” với món lẩu cháo dơi sen đậu xanh, vì toàn thực hiện, pha chế từ những con dơi sống. Nay, quán có “chiêu” mới, hấp dẫn ngay những thực khách sành ăn với món tiết canh dơi sen. Dơi sống sau khi lột da, chặt đầu, bóc bỏ ngũ tạng, rửa sạch, người ta bằm cả thịt và xương dơi thật nhỏ. Sau đó bắc chảo lên bếp lửa. Khi chảo nóng, cho dầu hoặc mỡ vào. Dầu hoặc mỡ sôi thì cho thịt dơi bằm vào, xào với củ hành tím, tỏi, khế, rồi nêm gia vị vừa ăn.
Trong khi đó người ta đã chuẩn bị sẵn số tiết lấy từ 10 con dơi, đủ cho một dĩa tiết canh. Tiết lấy được được cho vào một ít nước mắm nhứt cùng một ít nước đun sôi để nguội để “hãm”, không cho đông. Một chiếc dĩa tinh tươm sắp sẵn cà chua xung quanh vành dĩa, cho đẹp, sẵn sàng cho số thịt dơi xào chín trên chảo xúc trải vun lên. Cuối cùng, người ta rưới số tiết dơi đều khắp thịt dơi bằm xào chín rồi rắc ngò gai bằm nhỏ cùng đậu phộng rang bóc bỏ vỏ và những lát ớt sừng trâu đỏ tươi đều khắp trên mặt dĩa tiết canh dơi, thật hấp dẫn trước khi dọn ra bàn.
Trên bàn cũng đã có sẵn dĩa bánh tráng nem cùng dĩa rau thơm với ngò gai, ngò om, húng lủi, quế, hẹ xanh mướt mắt. Cạnh dĩa tiết canh và dĩa rau xanh còn có sự “phụ trợ” của chén nước mắm nhĩ với vài lát ớt sừng trâu thả bồng bềnh, một chén nhỏ muối tiêu, một chén nhỏ ớt sừng trâu, một chén nhỏ chanh cắt miếng và một dĩa nước đun sôi để nguội. Bấy giờ thực khách bắt tay vào thưởng thức “đặc sản” Cầu Kè.
Nhẹ tay gỡ miếng bánh tráng nem, lướt nhẹ mặt nước đun sôi để nguội trong dĩa, rồi trải trên lòng bàn tay. Thực khách gắp sắp các loại rau thơm lên miếng bánh tráng, dùng muỗng xúc tiết canh dơi để chồng lên rau, rồi cuốn tròn lại. Trước khi cho vào miệng, tùy sự khoái thích của thực khách, mà chấm nước mắm hay chấm muối tiêu chanh. Dù là loại nước chấm nào, miếng ngon của tiết canh dơi sen vẫn “nồng nã” hương vị: vừa ngọt, vừa thơm, vừa bùi, vừa béo.... Càng khoái thích hơn khi chiêu một ly “Xuân Thạnh lão tửu”, đặc sản Trà Vinh thơm nồng hương nếp mới.
Du lịch, GO! - Theo Thesaigontimes.vn, ảnh internet
Thứ Tư, 17 tháng 4, 2013
Tép nghệ chốn ruộng đồng.
Những ai sinh ra và lớn lên nơi chốn ruộng đồng sông nước chắc hẳn sẽ không thể nào quên những món ăn ngon dân dã từ con tép nghệ thân thương mẹ vẫn nấu những ngày thơ bé.
< Tép nghệ tươi.
Tép nghệ, có nơi gọi là tép bạc nghệ hoặc tôm lóng, sống ở sông. Tép nghệ là loài ăn tạp, kiếm ăn vào ban đêm, ăn động vật giáp xác, tảo, bã mùn. Đôi chân ngực thứ hai của tép nghệ phát triển mạnh thành đôi càng, tròn, dài, vươn thẳng tới phía trước. Vỏ tép mỏng, màu trắng bạc nhưng khi chế biến xong lại chuyển sang màu đỏ vàng như màu nghệ tươi nên gọi là tép nghệ.
Người ta dùng lưới để đánh bắt tép nghệ trong đêm, sáng sớm hôm sau thì mang ra chợ bán. Tép nghệ sống trong môi trường tự nhiên không bị ô nhiễm, thịt chắc, béo, thơm nên luôn được các bà nội trợ chọn mua mang về chế biến thành nhiều món ăn ngon dân dã để đãi những người thân trong gia đình.
Những ngày còn nhỏ ở quê, thỉnh thoảng mẹ tôi lại làm món tép nghệ nướng để ba tôi lai rai cùng các bác trong thôn. Mẹ chọn những con tép nghệ lớn, dùng que tre nhỏ xuyên dọc qua mình tép rồi nướng trên than hồng cho đến khi tép chín, tỏa hương thơm nồng.
Hồi đó, tôi cũng thường được mẹ cho mấy con tép nghệ nướng chấm muối tiêu chanh. Thịt tép ngọt, thơm, béo hòa cùng vị đậm đà của muối tiêu ngon đến không ngờ. Trong buổi chiều yên ả, dìu dịu với những làn gió mát từ sóng nước sông quê, câu chuyện hàn huyên, tâm sự của ba và mấy bác bên đĩa tép nướng của mẹ cũng trở nên rộn ràng, rôm rả hơn rất nhiều.
Cho những bữa cơm quê mùa ngon lành, tép nghệ còn được chế biến thành nhiều món ăn ngon thú vị. Trong đó tép nghệ rang là món ăn gắn bó với người dân chốn sông nước từ bao đời nay. Tép mang về lột bỏ phần vỏ đầu, cắt bỏ các chân, rửa sạch, để ráo rồi ướp muối, hạt nêm, mì chính, hành, tiêu, tỏi nửa giờ cho thấm gia vị.
Phi thơm mỡ hoặc dầu phộng rồi cho tép vào đảo đều, để lửa vừa phải chờ cho tép chín, tỏa hương thơm quyến rũ thì thêm một ít tiêu bột rồi tắt bếp. Cách điệu hơn một chút là rang cùng nước cốt dừa hay cho thêm một ít lá chanh thái chỉ, lá hẹ vào rang cùng. Món tép rang lúc này sẽ ngon và thêm nhiều hương vị.
Đĩa tép rang nóng hổi, thơm ngát ăn với cơm nóng rất ngon với vị ngọt, béo, giòn, thơm và màu sắc bắt mắt của tép, mang đến cho người ăn cảm giác ấm áp và lạ miệng.
Bữa cơm gia đình ở quê thường có thêm món canh rau nấu với tép nghệ. Nguyên liệu chỉ là một ít tép nghệ ướp sẵn nấu với bất cứ loại rau gì, từ rau lang, mồng tơi, rau má, rau ngót, bầu, bí... đến các loại rau rừng như rau sấn, rau lủi tím, rau dớn…
Tất cả đều cho ra món canh mát lành, thơm ngon, ngọt nước, giúp giải nhiệt ngày nắng nóng, mang đến cho người ăn cảm giác khỏe khoắn, dễ chịu.
Ngoài ra, người vùng sông nước còn dùng tép nghệ để làm nhân đúc bánh xèo, làm bánh bột lọc, bánh nậm, bánh gói… giúp các món ăn thêm thơm ngon và hấp dẫn hơn nhiều.
Du lịch, GO! - Theo K.Loan (báo Tuổi Trẻ)
< Tép nghệ tươi.
Tép nghệ, có nơi gọi là tép bạc nghệ hoặc tôm lóng, sống ở sông. Tép nghệ là loài ăn tạp, kiếm ăn vào ban đêm, ăn động vật giáp xác, tảo, bã mùn. Đôi chân ngực thứ hai của tép nghệ phát triển mạnh thành đôi càng, tròn, dài, vươn thẳng tới phía trước. Vỏ tép mỏng, màu trắng bạc nhưng khi chế biến xong lại chuyển sang màu đỏ vàng như màu nghệ tươi nên gọi là tép nghệ.
Người ta dùng lưới để đánh bắt tép nghệ trong đêm, sáng sớm hôm sau thì mang ra chợ bán. Tép nghệ sống trong môi trường tự nhiên không bị ô nhiễm, thịt chắc, béo, thơm nên luôn được các bà nội trợ chọn mua mang về chế biến thành nhiều món ăn ngon dân dã để đãi những người thân trong gia đình.
Những ngày còn nhỏ ở quê, thỉnh thoảng mẹ tôi lại làm món tép nghệ nướng để ba tôi lai rai cùng các bác trong thôn. Mẹ chọn những con tép nghệ lớn, dùng que tre nhỏ xuyên dọc qua mình tép rồi nướng trên than hồng cho đến khi tép chín, tỏa hương thơm nồng.Hồi đó, tôi cũng thường được mẹ cho mấy con tép nghệ nướng chấm muối tiêu chanh. Thịt tép ngọt, thơm, béo hòa cùng vị đậm đà của muối tiêu ngon đến không ngờ. Trong buổi chiều yên ả, dìu dịu với những làn gió mát từ sóng nước sông quê, câu chuyện hàn huyên, tâm sự của ba và mấy bác bên đĩa tép nướng của mẹ cũng trở nên rộn ràng, rôm rả hơn rất nhiều.
Cho những bữa cơm quê mùa ngon lành, tép nghệ còn được chế biến thành nhiều món ăn ngon thú vị. Trong đó tép nghệ rang là món ăn gắn bó với người dân chốn sông nước từ bao đời nay. Tép mang về lột bỏ phần vỏ đầu, cắt bỏ các chân, rửa sạch, để ráo rồi ướp muối, hạt nêm, mì chính, hành, tiêu, tỏi nửa giờ cho thấm gia vị.
Phi thơm mỡ hoặc dầu phộng rồi cho tép vào đảo đều, để lửa vừa phải chờ cho tép chín, tỏa hương thơm quyến rũ thì thêm một ít tiêu bột rồi tắt bếp. Cách điệu hơn một chút là rang cùng nước cốt dừa hay cho thêm một ít lá chanh thái chỉ, lá hẹ vào rang cùng. Món tép rang lúc này sẽ ngon và thêm nhiều hương vị.Đĩa tép rang nóng hổi, thơm ngát ăn với cơm nóng rất ngon với vị ngọt, béo, giòn, thơm và màu sắc bắt mắt của tép, mang đến cho người ăn cảm giác ấm áp và lạ miệng.
Bữa cơm gia đình ở quê thường có thêm món canh rau nấu với tép nghệ. Nguyên liệu chỉ là một ít tép nghệ ướp sẵn nấu với bất cứ loại rau gì, từ rau lang, mồng tơi, rau má, rau ngót, bầu, bí... đến các loại rau rừng như rau sấn, rau lủi tím, rau dớn…
Tất cả đều cho ra món canh mát lành, thơm ngon, ngọt nước, giúp giải nhiệt ngày nắng nóng, mang đến cho người ăn cảm giác khỏe khoắn, dễ chịu.
Ngoài ra, người vùng sông nước còn dùng tép nghệ để làm nhân đúc bánh xèo, làm bánh bột lọc, bánh nậm, bánh gói… giúp các món ăn thêm thơm ngon và hấp dẫn hơn nhiều.
Du lịch, GO! - Theo K.Loan (báo Tuổi Trẻ)
Thứ Hai, 15 tháng 4, 2013
Mùa xuân ăn món c’rêê
Đến với núi rừng Trường Sơn hoang dã thuộc huyện biên giới Tây Giang (Quảng Nam), bạn sẽ được thưởng thức các món ăn chế biến từ đọt mây (c’rêê, ha’vây) là món ăn ưa thích, hấp dẫn, lạ miệng của đồng bào Cơ Tu, nhất là trong dịp tết đến xuân về.
< Đọt mây.
Mây thường mọc thành bụi ở các khu rừng thâm u trên dãy Trường Sơn với hàng chục loài mây như mây song, mây nước, mây voi…
Có dây mây mọc dài đến hàng chục mét. Muốn lấy đọt phải rút sợi mây xuống, có khi phải huy động nhiều người mới rút nổi sợi mây để lấy đọt.
Mùa xuân, cây cối trên dãy Trường Sơn đâm chồi nảy lộc với những rừng mây xanh tốt mỡ màng. Lúc bấy giờ, đồng bào vào rừng bứt mây về bán lấy tiền mua sắm trong những ngày tết. Sẵn dịp, họ mang một số đọt mây về nhà chế biến các món ăn. Mây trên Trường Sơn có nhiều loài khác nhau, nhưng chỉ có loại mây voi là được ưa chuộng nhất bởi nõn nó ăn giòn, béo và vị ngọt, đắng nhẹ.
Đọt mây được chế biến thành nhiều món ăn hấp dẫn như các món xào, hấp cơm, nướng chín với lửa than hoặc giã nát nấu với thịt khô hoặc cá khô trong ống tre là món canh ngon nhất của đồng bào.
Đối với mây nước, chỉ cần khoảng 20 đọt ngọn mây là vừa một nồi canh ăn cả nhà. Đầu tiên, bóc lớp vỏ ở đọt mây ra, lấy nõn non xắt và ngâm qua nhiều nước cho hết nhựa đỏ, đến nước cuối cùng thì thêm chút muối cho bớt đi vị chát sau đó chế biến các món ăn.
Người Cơ Tu dùng nõn mây xắt ra xào (ađiing) với mỡ hoặc dầu ăn, có hương vị rất riêng mà không có loại đọt cây nào có được. Món đọt mây nướng (bóh) được vùi dưới than hồng giống như nướng củ sắn tươi có hương vị rất thơm, bùi và không dai vì còn giữ được nước. Đọt mây nướng phải ăn với muối hột giã với tiêu rừng (amất) mới “hợp gu”. Ngày nay, rừng càng ngày càng hẹp lại. Muốn ăn đọt mây, đồng bào phải đi rất xa, do đó đọt mây trở thành sản vật hơi hiếm.
Đặc biệt, món cháo bột sắn nấu với nõn mây của người Cơ Tu được chế biến như sau: Dùng sắn tươi bào ra bột hoặc sắn xắt lát phơi khô, sau đó bỏ vào cối giã thành bột để làm bánh hoặc nấu cháo (apưr). Lấy bột sắn hòa với nước nấu khoảng 8 – 10 phút cho cháo chín.
Khi nấu nhớ dùng đũa bếp quấy đều để tránh khét, sau đó cho nõn mây, cá vụn như tôm, tép cá đá, ốc đá… bỏ thêm rau tươi (ađhớc hay anệêng), muối, mì chính, tiêu rừng, ngò tàu (abắt) thành món ăn thơm ngon, khoái khẩu. Người già “rụng răng” rất thích ăn món này vì không cần nhai.
Những người già Cơ Tu thường nói: ”Đọt mây song ăn nhiều không bị nặng bụng như măng. Ngoài ra, nõn mây thường được đồng bào nơi đây dùng để giải độc rượu, trị đầy hơi, trướng bụng, nhất là trong dịp tết, ăn uống, tiếp đãi nhiều. Người con rể Cơ Tu hiếu thảo khi thường xuyên nấu cho bố mẹ vợ món cháo apưr này vì những người già chúng tôi đều đau răng, rụng răng, món này dễ húp…”.
Du lịch, GO! - Theo Tùng Sơn (Vĩnh Long Online), internet
< Đọt mây.
Mây thường mọc thành bụi ở các khu rừng thâm u trên dãy Trường Sơn với hàng chục loài mây như mây song, mây nước, mây voi…
Có dây mây mọc dài đến hàng chục mét. Muốn lấy đọt phải rút sợi mây xuống, có khi phải huy động nhiều người mới rút nổi sợi mây để lấy đọt.
Mùa xuân, cây cối trên dãy Trường Sơn đâm chồi nảy lộc với những rừng mây xanh tốt mỡ màng. Lúc bấy giờ, đồng bào vào rừng bứt mây về bán lấy tiền mua sắm trong những ngày tết. Sẵn dịp, họ mang một số đọt mây về nhà chế biến các món ăn. Mây trên Trường Sơn có nhiều loài khác nhau, nhưng chỉ có loại mây voi là được ưa chuộng nhất bởi nõn nó ăn giòn, béo và vị ngọt, đắng nhẹ.
Đọt mây được chế biến thành nhiều món ăn hấp dẫn như các món xào, hấp cơm, nướng chín với lửa than hoặc giã nát nấu với thịt khô hoặc cá khô trong ống tre là món canh ngon nhất của đồng bào.
Đối với mây nước, chỉ cần khoảng 20 đọt ngọn mây là vừa một nồi canh ăn cả nhà. Đầu tiên, bóc lớp vỏ ở đọt mây ra, lấy nõn non xắt và ngâm qua nhiều nước cho hết nhựa đỏ, đến nước cuối cùng thì thêm chút muối cho bớt đi vị chát sau đó chế biến các món ăn.
Người Cơ Tu dùng nõn mây xắt ra xào (ađiing) với mỡ hoặc dầu ăn, có hương vị rất riêng mà không có loại đọt cây nào có được. Món đọt mây nướng (bóh) được vùi dưới than hồng giống như nướng củ sắn tươi có hương vị rất thơm, bùi và không dai vì còn giữ được nước. Đọt mây nướng phải ăn với muối hột giã với tiêu rừng (amất) mới “hợp gu”. Ngày nay, rừng càng ngày càng hẹp lại. Muốn ăn đọt mây, đồng bào phải đi rất xa, do đó đọt mây trở thành sản vật hơi hiếm.Đặc biệt, món cháo bột sắn nấu với nõn mây của người Cơ Tu được chế biến như sau: Dùng sắn tươi bào ra bột hoặc sắn xắt lát phơi khô, sau đó bỏ vào cối giã thành bột để làm bánh hoặc nấu cháo (apưr). Lấy bột sắn hòa với nước nấu khoảng 8 – 10 phút cho cháo chín.
Khi nấu nhớ dùng đũa bếp quấy đều để tránh khét, sau đó cho nõn mây, cá vụn như tôm, tép cá đá, ốc đá… bỏ thêm rau tươi (ađhớc hay anệêng), muối, mì chính, tiêu rừng, ngò tàu (abắt) thành món ăn thơm ngon, khoái khẩu. Người già “rụng răng” rất thích ăn món này vì không cần nhai.
Những người già Cơ Tu thường nói: ”Đọt mây song ăn nhiều không bị nặng bụng như măng. Ngoài ra, nõn mây thường được đồng bào nơi đây dùng để giải độc rượu, trị đầy hơi, trướng bụng, nhất là trong dịp tết, ăn uống, tiếp đãi nhiều. Người con rể Cơ Tu hiếu thảo khi thường xuyên nấu cho bố mẹ vợ món cháo apưr này vì những người già chúng tôi đều đau răng, rụng răng, món này dễ húp…”.
Du lịch, GO! - Theo Tùng Sơn (Vĩnh Long Online), internet
Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013
Những điều khó quên ở Mường Lò
Theo quốc lộ 32 uốn lượn qua miền núi non Tây Bắc, đoàn chúng tôi dừng chân một ngày ở thung lũng Mường Lò. Thung lũng được bao bọc bởi dãy Hoàng Liên Sơn này là một trong những cái nôi văn hóa của tỉnh Yên Bái.
Với sự hiện diện của 17 dân tộc trong đó đông nhất là người Thái đen, Mường Lò khiến những ai đã một lần đi qua sẽ phải nhớ mãi đời sống sơn cước thi vị và nhiều màu sắc nơi đây.
Từ nhà sàn nhìn ra những cánh đồng lúa thoai thoải bậc thang chạy về phía núi, trên đồng thấp thoáng bóng những cô gái Thái duyên dáng trong trang phục đen truyền thống, du khách bỗng đâm ra lưu luyến đời sống miền sơn cước.
Trong các dân tộc ở Việt Nam, người Thái có đời sống văn hóa tinh thần phong phú được xếp vào bậc nhất. Người Thái ở Mường Lò nổi tiếng là giữ gìn được nhiều nét văn hóa của cha ông, từ nếp nhà sàn đến nghề dệt thổ cẩm, trang phục, ẩm thực, đặc biệt là những điệu khắp (hát, ngâm), điệu xòe lãng mạn mượt mà.
Trong những buổi tiếp khách phương xa, giữa tiếng khèn bay bổng, tiếng trống, tiếng chiêng sâu lắng mà rộn rã, những bước xòe uyển chuyển làm cho con người gần gũi chan hòa với nhau hơn.
Sinh sống trên vùng đất phì nhiêu, trù phú, người Thái ở Mường Lò cũng sáng tạo nên một nền ẩm thực đặc sắc với bánh chưng đen, thịt trâu sấy, thịt hun khói, cơm nhuộm, xôi cá… đặc biệt nhất là các món ăn chế biến từ côn trùng, rêu đá.
Rêu mọc từ đá ngầm dưới sông, suối là loại thực phẩm được người Thái, Mông, Mường yêu thích từ xa xưa. Theo các già làng, rêu có khả năng chữa một số bệnh và phòng ngừa lam sơn chướng khí.
Khi mùa rêu đến, các bản làng chọn một ngày làm ngày hội lấy rêu, nhà nhà cùng nhau đi đến bãi rêu ở các sông, suối lớn. Mỗi năm người Thái tổ chức đi lấy rêu bốn, năm lần để làm thức ăn khô dự trữ và làm quà biếu.
Rêu ở Mường Lò dài, dày, xanh ngắt, ngon nhất vào tháng 11, 12 Âm lịch. Việc chế biến rêu quan trọng nhất là khâu xử lý ban đầu.
Người ta đặt rêu lên những tảng đá nhẵn, dùng thanh gỗ đập tơi, sau đó rửa thật kỹ, xong đem ủ muối từ 10 đến 15 phút rồi lại rửa lại, cuối cùng mới băm nhỏ rêu và cho gia vị vào để chế biến thành các món ăn.
Các món ăn được chế biến từ rêu khá đa dạng như: rêu nướng, chiên, nấu canh. Cầu kỳ nhất và hấp dẫn nhất là hai món khay pho, khay pỉnh.
Khay pho gồm rêu, một chút thịt mỡ, hành, tỏi, mắc khén, gừng, ớt, thì là, lá chanh, củ sả (tất cả đều được băm nhỏ) trộn đều với ít muối, xong rồi đem gói lại bằng lá dong hoặc lá chuối và vùi vào tro nóng, bên ngoài phủ than hồng.
Sau khoảng hai giờ, khi lá chuối đã khô giòn, chuyển sang màu vàng ươm là rêu đã chín. Khi ăn, mở gói lá dong ra, mùi mắc khén, hạt sẻn và mấy chục thứ gia vị cùng tỏa mùi ngạt ngào, còn rêu vẫn riêng một vị thanh mát.
Món khay pỉnh còn cầu kỳ hơn. Rêu và gia vị sau khi trộn như làm khay pho thì được đem gói bằng lá lốt hoặc lá chanh, xong rồi lấy thanh tre tươi chẻ đôi kẹp các gói nhỏ này lại đem nướng giòn.
Rêu chín, lấy ra cho vào chảo chiên với mỡ heo rồi mới ăn. Món rêu thơm phức nhắm với chút rượu gạo, rượu ngô nấu bằng men lá quả đúng là tinh hoa của núi rừng.
Vào các dịp lễ tết, người Thái còn băm nhỏ rêu với thịt gà thịt vịt, cho vào chõ đồ lên như đồ xôi. Nghe nói món này ăn béo ngậy và có mùi thơm rất quyến rũ.
Khách phương xa đến nếu được đãi rêu là biết người dân nơi đây quý mình lắm. Bởi vì rêu suối nhiều nhưng rêu ngon thì ít, và mùa rêu ăn được cũng rất ngắn ngủi. Món rêu khô trên gác bếp là thứ quà biếu mà người Thái chỉ để dành cho những mối thân tình.
Du lịch, GO! - Theo Doanh Nhân Saigon Cuối Tuần
Với sự hiện diện của 17 dân tộc trong đó đông nhất là người Thái đen, Mường Lò khiến những ai đã một lần đi qua sẽ phải nhớ mãi đời sống sơn cước thi vị và nhiều màu sắc nơi đây.
Từ nhà sàn nhìn ra những cánh đồng lúa thoai thoải bậc thang chạy về phía núi, trên đồng thấp thoáng bóng những cô gái Thái duyên dáng trong trang phục đen truyền thống, du khách bỗng đâm ra lưu luyến đời sống miền sơn cước.
Trong các dân tộc ở Việt Nam, người Thái có đời sống văn hóa tinh thần phong phú được xếp vào bậc nhất. Người Thái ở Mường Lò nổi tiếng là giữ gìn được nhiều nét văn hóa của cha ông, từ nếp nhà sàn đến nghề dệt thổ cẩm, trang phục, ẩm thực, đặc biệt là những điệu khắp (hát, ngâm), điệu xòe lãng mạn mượt mà.
Trong những buổi tiếp khách phương xa, giữa tiếng khèn bay bổng, tiếng trống, tiếng chiêng sâu lắng mà rộn rã, những bước xòe uyển chuyển làm cho con người gần gũi chan hòa với nhau hơn.
Sinh sống trên vùng đất phì nhiêu, trù phú, người Thái ở Mường Lò cũng sáng tạo nên một nền ẩm thực đặc sắc với bánh chưng đen, thịt trâu sấy, thịt hun khói, cơm nhuộm, xôi cá… đặc biệt nhất là các món ăn chế biến từ côn trùng, rêu đá.
Rêu mọc từ đá ngầm dưới sông, suối là loại thực phẩm được người Thái, Mông, Mường yêu thích từ xa xưa. Theo các già làng, rêu có khả năng chữa một số bệnh và phòng ngừa lam sơn chướng khí.
Khi mùa rêu đến, các bản làng chọn một ngày làm ngày hội lấy rêu, nhà nhà cùng nhau đi đến bãi rêu ở các sông, suối lớn. Mỗi năm người Thái tổ chức đi lấy rêu bốn, năm lần để làm thức ăn khô dự trữ và làm quà biếu.Rêu ở Mường Lò dài, dày, xanh ngắt, ngon nhất vào tháng 11, 12 Âm lịch. Việc chế biến rêu quan trọng nhất là khâu xử lý ban đầu.
Người ta đặt rêu lên những tảng đá nhẵn, dùng thanh gỗ đập tơi, sau đó rửa thật kỹ, xong đem ủ muối từ 10 đến 15 phút rồi lại rửa lại, cuối cùng mới băm nhỏ rêu và cho gia vị vào để chế biến thành các món ăn.
Các món ăn được chế biến từ rêu khá đa dạng như: rêu nướng, chiên, nấu canh. Cầu kỳ nhất và hấp dẫn nhất là hai món khay pho, khay pỉnh.
Khay pho gồm rêu, một chút thịt mỡ, hành, tỏi, mắc khén, gừng, ớt, thì là, lá chanh, củ sả (tất cả đều được băm nhỏ) trộn đều với ít muối, xong rồi đem gói lại bằng lá dong hoặc lá chuối và vùi vào tro nóng, bên ngoài phủ than hồng.
Sau khoảng hai giờ, khi lá chuối đã khô giòn, chuyển sang màu vàng ươm là rêu đã chín. Khi ăn, mở gói lá dong ra, mùi mắc khén, hạt sẻn và mấy chục thứ gia vị cùng tỏa mùi ngạt ngào, còn rêu vẫn riêng một vị thanh mát.
Món khay pỉnh còn cầu kỳ hơn. Rêu và gia vị sau khi trộn như làm khay pho thì được đem gói bằng lá lốt hoặc lá chanh, xong rồi lấy thanh tre tươi chẻ đôi kẹp các gói nhỏ này lại đem nướng giòn.
Rêu chín, lấy ra cho vào chảo chiên với mỡ heo rồi mới ăn. Món rêu thơm phức nhắm với chút rượu gạo, rượu ngô nấu bằng men lá quả đúng là tinh hoa của núi rừng.Vào các dịp lễ tết, người Thái còn băm nhỏ rêu với thịt gà thịt vịt, cho vào chõ đồ lên như đồ xôi. Nghe nói món này ăn béo ngậy và có mùi thơm rất quyến rũ.
Khách phương xa đến nếu được đãi rêu là biết người dân nơi đây quý mình lắm. Bởi vì rêu suối nhiều nhưng rêu ngon thì ít, và mùa rêu ăn được cũng rất ngắn ngủi. Món rêu khô trên gác bếp là thứ quà biếu mà người Thái chỉ để dành cho những mối thân tình.
Du lịch, GO! - Theo Doanh Nhân Saigon Cuối Tuần
Cá chua, đặc sản vùng hạ lưu sông Vệ
Từ lâu, vùng nước lợ hạ lưu sông Vệ, đoạn sông Vực Hồng (Quảng Ngãi) có một loại cá hình dạng giống cá đối, người địa phương thường gọi là cá chua. Gần đây nghề nuôi tôm phát triển, loài cá này cũng xuất hiện nhiều hơn. Chúng sinh trưởng trong những hồ tôm bỏ hoang hay những hồ đang nuôi mà đầu vụ chủ hồ dọn không kỹ, nhiều loài thủy sản còn sót lại.
Dân gian cho rằng giống cá chua sinh sản tự nhiên ngoài sông, khu vực nuôi tôm cũng là môi trường sinh sống thuận lợi của chúng. Do vậy mà ở vùng này có nhiều cá chua, và nó trở thành một món ăn với những cách chế biến dân dã nhưng rất ngon.
Về hình dạng, cá chua to cỡ bàn tay người lớn, dài và đầu thuôn hơn cá đối, vảy nhỏ, da màu ánh bạc. Người ta bắt cá chua theo mùa nuôi tôm, nghĩa là khoảng từ tháng ba đến tháng tám, nhiều nhất vào độ tháng sáu âm lịch.
Cá chua bắt được đem về rửa sạch, chế biến theo cách dân dã sẽ được nhiều món như: Nướng, luộc, hấp, nấu măng. Với món nướng thì chỉ cần cho cá đã làm sạch lên vỉ, có hoặc không lót lá chuối tươi và nướng trực tiếp trên lửa than rực đỏ. Kỹ thuật nướng phải trở đều để cá chín đến sém vàng, không cháy mới ngon.
Ăn cá chua nướng với bánh tráng mỏng cuộn rau sống, chấm mắm ớt tỏi, hoặc chấm muối trắng giã nhỏ cùng ớt hiểm xanh là ngon nhất. Còn món luộc thì cho cá đã làm sạch ruột, mang, ướp mắm muối và bỏ vào nồi nấu đến chín, thêm gia vị tiêu, ớt, rau thơm là dùng được.
Ăn món luộc không gì bằng gắp cá lên đĩa, còn nước thì bỏ bánh tráng nướng giòn bẻ nhỏ vào tô, thêm nhiều rau thơm và dùng khi thức ăn còn nóng.
Món hấp công phu hơn, người ta để cá tươi được làm sạch vào đĩa to, thêm đủ gia vị hành, tiêu, ớt, gừng lát, bún khô sợi nhỏ, thơm xắt lát, nấm mèo,... Sau đó cho vào nồi hấp, đậy nắp kín, chụm nhỏ lửa, hạn chế bốc hơi ồ ạt làm mất mùi thơm và chất bổ dưỡng. Ăn món này cũng phải dùng bánh tráng mỏng cuộn cá với rau sống, chấm mắm ớt tỏi hay mắm nêm đều ngon. Với ba cách chế biến trên, mỗi món cho một hương vị riêng, người dùng chúng đều cảm thấy ngon khó tả.
Thế nhưng, có lẽ dân dã và hấp dẫn thực khách hơn cả vẫn là món cá chua nấu măng. Chế biến món này bằng cách làm cá chua sạch ruột, mang, rửa kỹ rồi bỏ vào xoong hoặc nồi. Xong cho thêm măng tươi xắt lát mỏng hoặc cọng dài vừa phải, ớt tươi thái nhỏ hay giã dập, một ít muối hột và đổ nước ngập cá và măng, thêm gia vị cần thiết rồi đun nhỏ lửa nấu chín. Khi nhắc nồi xuống phải cho thêm rau thơm như húng quế, ngò tàu,… Món này có thể ăn với bánh tráng hay với cơm tùy bữa ăn gia đình hay tiếp khách.
Vị ngon của món cá chua nấu măng ở chỗ vừa có hương vị cá, vừa hương vị măng tươi, ớt tươi,... tạo cho người thưởng thức một cảm nhận ngon khoái khẩu.
Du lịch, GO! - Theo Bùi Văn Tạo (Quảng Ngãi Online), ảnh internet
Dân gian cho rằng giống cá chua sinh sản tự nhiên ngoài sông, khu vực nuôi tôm cũng là môi trường sinh sống thuận lợi của chúng. Do vậy mà ở vùng này có nhiều cá chua, và nó trở thành một món ăn với những cách chế biến dân dã nhưng rất ngon.
Về hình dạng, cá chua to cỡ bàn tay người lớn, dài và đầu thuôn hơn cá đối, vảy nhỏ, da màu ánh bạc. Người ta bắt cá chua theo mùa nuôi tôm, nghĩa là khoảng từ tháng ba đến tháng tám, nhiều nhất vào độ tháng sáu âm lịch.Cá chua bắt được đem về rửa sạch, chế biến theo cách dân dã sẽ được nhiều món như: Nướng, luộc, hấp, nấu măng. Với món nướng thì chỉ cần cho cá đã làm sạch lên vỉ, có hoặc không lót lá chuối tươi và nướng trực tiếp trên lửa than rực đỏ. Kỹ thuật nướng phải trở đều để cá chín đến sém vàng, không cháy mới ngon.
Ăn cá chua nướng với bánh tráng mỏng cuộn rau sống, chấm mắm ớt tỏi, hoặc chấm muối trắng giã nhỏ cùng ớt hiểm xanh là ngon nhất. Còn món luộc thì cho cá đã làm sạch ruột, mang, ướp mắm muối và bỏ vào nồi nấu đến chín, thêm gia vị tiêu, ớt, rau thơm là dùng được.
Ăn món luộc không gì bằng gắp cá lên đĩa, còn nước thì bỏ bánh tráng nướng giòn bẻ nhỏ vào tô, thêm nhiều rau thơm và dùng khi thức ăn còn nóng.Món hấp công phu hơn, người ta để cá tươi được làm sạch vào đĩa to, thêm đủ gia vị hành, tiêu, ớt, gừng lát, bún khô sợi nhỏ, thơm xắt lát, nấm mèo,... Sau đó cho vào nồi hấp, đậy nắp kín, chụm nhỏ lửa, hạn chế bốc hơi ồ ạt làm mất mùi thơm và chất bổ dưỡng. Ăn món này cũng phải dùng bánh tráng mỏng cuộn cá với rau sống, chấm mắm ớt tỏi hay mắm nêm đều ngon. Với ba cách chế biến trên, mỗi món cho một hương vị riêng, người dùng chúng đều cảm thấy ngon khó tả.
Thế nhưng, có lẽ dân dã và hấp dẫn thực khách hơn cả vẫn là món cá chua nấu măng. Chế biến món này bằng cách làm cá chua sạch ruột, mang, rửa kỹ rồi bỏ vào xoong hoặc nồi. Xong cho thêm măng tươi xắt lát mỏng hoặc cọng dài vừa phải, ớt tươi thái nhỏ hay giã dập, một ít muối hột và đổ nước ngập cá và măng, thêm gia vị cần thiết rồi đun nhỏ lửa nấu chín. Khi nhắc nồi xuống phải cho thêm rau thơm như húng quế, ngò tàu,… Món này có thể ăn với bánh tráng hay với cơm tùy bữa ăn gia đình hay tiếp khách.
Vị ngon của món cá chua nấu măng ở chỗ vừa có hương vị cá, vừa hương vị măng tươi, ớt tươi,... tạo cho người thưởng thức một cảm nhận ngon khoái khẩu.
Du lịch, GO! - Theo Bùi Văn Tạo (Quảng Ngãi Online), ảnh internet
Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2013
Độc đáo cháo mối của người Cơ Tu.
Đến với núi rừng Trường Sơn hoang dã thuộc huyện Đông Giang (Quảng Nam), bạn sẽ được thưởng thức các món ăn chế biến từ con mối cánh (cláp). Đó là món ăn ưa thích, hấp dẫn của đồng bào Cơ Tu.
Già Mạc Thị Gách (87 tuổi), là “chuyên gia” “gọi mối” đất ở thôn Tống Coói (xã Ba- Đông Giang) cho biết: “Gần như toàn bộ số gia đình người Cơ Tu ở đây đều biết “gọi mối về”.
Mùa bắt mối diễn ra từ tháng 3- 8 (âm lịch) hàng năm. Khi mối xuất hiện, bà con tranh thủ bắt mối đất để rang ăn chơi, hoặc rang xong giằm nước mắm hoặc giã với muối ăn với cơm hoặc nấu cháo (cláp p’chơ)… đều thơm ngon.
Nhà tôi, có đêm mối ra bắt trên 5 ký mối, cái thì phơi khô, cái thì rang ăn liền. Khi rang bỏ ít muối để trong ống lồ ô, gác trên giàn bếp ăn dần. Người con rể Cơ Tu hiếu thảo thì thường xuyên nấu cho bố mẹ vợ món cháo ”cláp p’chơ” này vì những người già chúng tôi đều đau răng, rụng răng, món này dễ húp…”.
Già Gách cho hay, nếu không có đèn điện, khi phát hiện có mối đang bay ra, chúng tôi thắp một cây đèn dầu hoặc đèn cầy, cắm giữa cái thau lớn đặt ở nơi thuận tiện ngoài sân, trong thau đổ nước ngập 1/4 cây đèn.
Mối thấy ánh sáng cùng nhau bay đến, sà xuống gặp nước, ướt cánh không bay lên được, nên nằm lại trong thau. Thỉnh thoảng, mình lấy tay khuấy nước trong thau để mối ướt cánh không bay lên được. Nếu thấy trong thau nhiều mối quá thì hốt mối ra bỏ vào bao nilon hoặc xoong, nồi, thùng, mủng…
Công đoạn bắt mối chỉ diễn ra khoảng nửa giờ là kết thúc, lúc này mối đã ít dần, chúng bị rụng cánh và rơi dần ở chung quanh khu vực. Sau khi kết thúc cuộc bắt mối, người ta dùng nước sạch rửa mối nhẹ nhàng nhiều lần cho sạch và vớt ra một cái rá nhựa để cho ráo nước…
Mối đang bắt còn nguyên cánh mỏng, thân dài khoảng 1cm, bụng lớn bằng sợi bún tươi, có viền đen quanh thân màu vàng nâu, ngực và đầu nhỏ hơn.
Bà A lăng Thị Nhá (58 tuổi), ở thôn Tà Lâu, xã Ba (Đông Giang) cho biết: “Mối rang là món ăn ngon miệng, hấp dẫn đối với đồng bào Cơ Tu và một số người Kinh. Muốn ăn, người ta đặt chảo lên bếp, chờ nóng đều, bỏ vài bát mối này vào và dùng đũa khuấy đều, mối bốc hơi và khô dần… cho đến khi từ chảo bay ra một mùi thơm quyến rũ, ngào ngạt, mang hương thơm mùi châu chấu nướng và những tiếng nổ lẹt đẹt nho nhỏ, báo hiệu mối đã chín rồi.
Lúc này, đổ ra mẹt, lấy các ngón tay đảo nhẹ và sảy, hay bật cái máy quạt cho cánh mối bay đi, chỉ còn lại thân mối vàng ươm. Người Cơ Tu ngoài rang mối để “ăn chơi” ra, họ còn giã nát nén lại thành bánh để ăn dần. Khi rang mối họ thêm vào ít muối và cất trong ống lồ ô để dành ăn lai rai và hương vị cũng không kém phần ngọt ngào.
Đặc biệt là món cháo mối ăn rất thơm ngon được chế biến như sau: Nấu cháo gạo hay sắn tươi chín, cho tiếp mối đã rang vào nồi, chờ sôi lại rồi nêm gia vị cho vừa ăn. Bát cháo mối với màu nâu của mối, màu trắng của cháo ăn có mùi thơm rất đặc trưng, bổ dưỡng...
Không gì thú vị bằng khi được thưởng thức hương vị thơm lừng, beo béo và ngọt bùi… của món mối cánh rang, có thêm vài ly rượu tà vạt, rôm rả trò chuyện cùng với người già, lũ trẻ. Gương mặt của họ cũng hồng lên, lấp lánh bên bếp lửa hồng.
Du khách qua đây trong mùa mối cánh, nếu đã một lần thưởng thức cái hương vị thơm ngon, độc đáo của món cháo mối ở Trường Sơn này thì không thể nào quên được.
Du lịch, GO! - Theo Hòa Vang (Vĩnh Long Online)
Già Mạc Thị Gách (87 tuổi), là “chuyên gia” “gọi mối” đất ở thôn Tống Coói (xã Ba- Đông Giang) cho biết: “Gần như toàn bộ số gia đình người Cơ Tu ở đây đều biết “gọi mối về”.
Mùa bắt mối diễn ra từ tháng 3- 8 (âm lịch) hàng năm. Khi mối xuất hiện, bà con tranh thủ bắt mối đất để rang ăn chơi, hoặc rang xong giằm nước mắm hoặc giã với muối ăn với cơm hoặc nấu cháo (cláp p’chơ)… đều thơm ngon.
Nhà tôi, có đêm mối ra bắt trên 5 ký mối, cái thì phơi khô, cái thì rang ăn liền. Khi rang bỏ ít muối để trong ống lồ ô, gác trên giàn bếp ăn dần. Người con rể Cơ Tu hiếu thảo thì thường xuyên nấu cho bố mẹ vợ món cháo ”cláp p’chơ” này vì những người già chúng tôi đều đau răng, rụng răng, món này dễ húp…”.Già Gách cho hay, nếu không có đèn điện, khi phát hiện có mối đang bay ra, chúng tôi thắp một cây đèn dầu hoặc đèn cầy, cắm giữa cái thau lớn đặt ở nơi thuận tiện ngoài sân, trong thau đổ nước ngập 1/4 cây đèn.
Công đoạn bắt mối chỉ diễn ra khoảng nửa giờ là kết thúc, lúc này mối đã ít dần, chúng bị rụng cánh và rơi dần ở chung quanh khu vực. Sau khi kết thúc cuộc bắt mối, người ta dùng nước sạch rửa mối nhẹ nhàng nhiều lần cho sạch và vớt ra một cái rá nhựa để cho ráo nước…
Mối đang bắt còn nguyên cánh mỏng, thân dài khoảng 1cm, bụng lớn bằng sợi bún tươi, có viền đen quanh thân màu vàng nâu, ngực và đầu nhỏ hơn.Bà A lăng Thị Nhá (58 tuổi), ở thôn Tà Lâu, xã Ba (Đông Giang) cho biết: “Mối rang là món ăn ngon miệng, hấp dẫn đối với đồng bào Cơ Tu và một số người Kinh. Muốn ăn, người ta đặt chảo lên bếp, chờ nóng đều, bỏ vài bát mối này vào và dùng đũa khuấy đều, mối bốc hơi và khô dần… cho đến khi từ chảo bay ra một mùi thơm quyến rũ, ngào ngạt, mang hương thơm mùi châu chấu nướng và những tiếng nổ lẹt đẹt nho nhỏ, báo hiệu mối đã chín rồi.
Lúc này, đổ ra mẹt, lấy các ngón tay đảo nhẹ và sảy, hay bật cái máy quạt cho cánh mối bay đi, chỉ còn lại thân mối vàng ươm. Người Cơ Tu ngoài rang mối để “ăn chơi” ra, họ còn giã nát nén lại thành bánh để ăn dần. Khi rang mối họ thêm vào ít muối và cất trong ống lồ ô để dành ăn lai rai và hương vị cũng không kém phần ngọt ngào.Đặc biệt là món cháo mối ăn rất thơm ngon được chế biến như sau: Nấu cháo gạo hay sắn tươi chín, cho tiếp mối đã rang vào nồi, chờ sôi lại rồi nêm gia vị cho vừa ăn. Bát cháo mối với màu nâu của mối, màu trắng của cháo ăn có mùi thơm rất đặc trưng, bổ dưỡng...
Không gì thú vị bằng khi được thưởng thức hương vị thơm lừng, beo béo và ngọt bùi… của món mối cánh rang, có thêm vài ly rượu tà vạt, rôm rả trò chuyện cùng với người già, lũ trẻ. Gương mặt của họ cũng hồng lên, lấp lánh bên bếp lửa hồng.
Du khách qua đây trong mùa mối cánh, nếu đã một lần thưởng thức cái hương vị thơm ngon, độc đáo của món cháo mối ở Trường Sơn này thì không thể nào quên được.
Du lịch, GO! - Theo Hòa Vang (Vĩnh Long Online)
Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2013
Ngọt ngào thốt nốt vùng Bảy Núi
Đến vùng Bảy Núi ở tỉnh An Giang, đi từ Tịnh Biên cho tới Tri Tôn đâu đâu cũng thấy những cây thốt nốt thân thẳng đứng, cao vút lên trời xanh với chòm lá như đóa hoa khổng lồ, giăng giăng khắp chốn.
Vào mùa khai thác nước thốt nốt, thích nhất là được thưởng thức sản phẩm mang hương rừng gió núi độc đáo của một vùng biên địa xa xôi từ trái thốt nốt.
Thốt nốt là loại cây trồng khoảng ba bốn chục năm mới cao chừng 20 thước. Khi đó cây mới trổ bông vào mùa nắng. Chạng vạng, người ta leo lên thân tre cột sát thân thốt nốt lên tới ngọn, lấy những ống tre đã hong khói diệt khuẩn đeo sau lưng đặt vào vòi bông vừa mới cắt một khúc để lấy dịch.
Từ ngọn cây này chuyền sang ngọn cây khác, họ đặt hết những ống tre ấy rồi nhanh nhẹn leo xuống đất. Rạng sáng hôm sau, họ lại leo lên lấy những ống tre hứng đầy dịch thốt nốt đem về nhà...
Hằng ngày, trên những con đường núi xanh tươi buổi sớm mai, với chiếc đòn gánh trên vai, hai đầu là hai chùm ống đựng đầy nước thốt nốt, các cô gái rong ruổi đi bán khắp nơi.
Chỉ cần vài ngàn đồng là bạn đã được thưởng thức thứ nước ngọt ngào với mùi vị đặc trưng hấp dẫn của thốt nốt. Thứ nước uống nhiều khoái cảm này hiện nay còn được bày bán dài theo các con đường dẫn vào nội ô thị trấn Tri Tôn, khu du lịch Lâm viên Núi Cấm (An Hảo, Tịnh Biên).
Để tăng thêm phần giải nhiệt, giống như nhiều loại nước giải khát khác, nước từ trái thốt nốt được người ta cho vô keo nhựa hoặc chai ướp lạnh. Loại này để lâu được, bán suốt ngày, không như nước thốt nốt đựng ống tre chỉ bán tới khi hửng nắng thì bị chua, mất ngon. Nước thốt nốt còn được người dân địa phương ủ với một thứ cây rừng để lên men, tạo thành một loại bia khá đậm đà.
Nước từ trái thốt nốt còn được cho vào chảo lá sen, vừa nấu trên bếp lò vừa quậy đều tay cho tới khi thành dung dịch màu vàng sệt thì cho vào khuôn, đóng thành cây. Đó là đường thốt nốt. Loại đường này được nhiều du khách mua về nấu chè, thưởng thức hương vị ngọt thanh mà các loại đường khác không có được.
Cùng với nước, cơm thốt nốt cũng là hàng hóa thu hút nhiều khách du lịch phương xa tới đây tham quan. Cơm thốt nốt màu trắng ngà, mềm, dai, giòn giòn, ăn khá khoái khẩu khi cho thêm chút đường và nước đá đập nhuyễn.
Món ngon từ thốt nốt còn có thạch thốt nốt, được cho vào keo nhựa thanh sạch. Loại này chỉ cần ướp lạnh hoặc trộn với đá cây đập nhuyễn là đã cho ta thứ giải khát tuyệt hảo trong những lúc nắng nôi oi ả của mùa hè phương Nam dậy nắng lửa.
Nhưng tuyệt hơn cả là thạch thốt nốt. Loại này đã được các cơ sở sản xuất cho vào keo nhựa. Mua về, bạn chỉ việc mở nắp keo, dùng muỗng múc vừa thạch vừa nước cho vào ly với một ít nước đá đập, vừa quậy đều vừa nhấm nháp một cách sảng khoái.
Độc đáo hơn là bánh thốt nốt. Người ta lấy gạo Nàng nhen – đặc sản Bảy Núi - xay thành bột, ủ một đêm cho lên men, hoặc gạo xay xong, đem phơi khô và cất trong vòng một năm mới cho thứ bánh không mềm nhão. Lấy bột trộn với cơm thốt nốt (lựa cơm dày) và nước thốt nốt rồi gói trong tấm lá chuối theo hình chữ nhật, dẹp như chiếc bánh gói, xong đem hấp. Chừng tiếng đồng hồ, theo hơi nóng bốc ra từ nắp xửng là mùi thơm ngào ngạt gọi mời lan tỏa khắp xung quanh. Mở gói lá ra, bánh thốt nốt có màu vàng sáp trông rất bắt mắt.
Người ta còn làm bánh theo cách khác. Nhà văn Sơn Nam trong quyển “Gốc cây, cục đá và ngôi sao – Danh thắng miền Nam” đã mô tả: “… đặc sản là bánh thốt nốt. Như ta biết, thốt nốt là trái có xớ dày, chứa chất đường ngọt, phải mài xớ vỏ của trái, trộn với bột gạo, gói lại, hấp chín” (NXB Trẻ, 2006, tr. 115, 116). Tuy nhiên, tại chợ cửa khẩu Tịnh Biên, bánh thốt nốt được bán dưới hình thức giống như chiếc bánh bông lan, vàng ươm và đẹp mắt!
Với trái thốt nốt, cư dân vùng biên địa Bảy Núi kiếm sống cũng khấm khá. Đó có thể gọi là mùa “mật” của họ trong những ngày nắng lửa oi nồng.
Du lịch, GO! - Theo Phương Kiều - Thời báo kinh tế Sài Gòn, ảnh internet
Vào mùa khai thác nước thốt nốt, thích nhất là được thưởng thức sản phẩm mang hương rừng gió núi độc đáo của một vùng biên địa xa xôi từ trái thốt nốt.
Thốt nốt là loại cây trồng khoảng ba bốn chục năm mới cao chừng 20 thước. Khi đó cây mới trổ bông vào mùa nắng. Chạng vạng, người ta leo lên thân tre cột sát thân thốt nốt lên tới ngọn, lấy những ống tre đã hong khói diệt khuẩn đeo sau lưng đặt vào vòi bông vừa mới cắt một khúc để lấy dịch.
Từ ngọn cây này chuyền sang ngọn cây khác, họ đặt hết những ống tre ấy rồi nhanh nhẹn leo xuống đất. Rạng sáng hôm sau, họ lại leo lên lấy những ống tre hứng đầy dịch thốt nốt đem về nhà...
Hằng ngày, trên những con đường núi xanh tươi buổi sớm mai, với chiếc đòn gánh trên vai, hai đầu là hai chùm ống đựng đầy nước thốt nốt, các cô gái rong ruổi đi bán khắp nơi.
Chỉ cần vài ngàn đồng là bạn đã được thưởng thức thứ nước ngọt ngào với mùi vị đặc trưng hấp dẫn của thốt nốt. Thứ nước uống nhiều khoái cảm này hiện nay còn được bày bán dài theo các con đường dẫn vào nội ô thị trấn Tri Tôn, khu du lịch Lâm viên Núi Cấm (An Hảo, Tịnh Biên).
Để tăng thêm phần giải nhiệt, giống như nhiều loại nước giải khát khác, nước từ trái thốt nốt được người ta cho vô keo nhựa hoặc chai ướp lạnh. Loại này để lâu được, bán suốt ngày, không như nước thốt nốt đựng ống tre chỉ bán tới khi hửng nắng thì bị chua, mất ngon. Nước thốt nốt còn được người dân địa phương ủ với một thứ cây rừng để lên men, tạo thành một loại bia khá đậm đà.
Nước từ trái thốt nốt còn được cho vào chảo lá sen, vừa nấu trên bếp lò vừa quậy đều tay cho tới khi thành dung dịch màu vàng sệt thì cho vào khuôn, đóng thành cây. Đó là đường thốt nốt. Loại đường này được nhiều du khách mua về nấu chè, thưởng thức hương vị ngọt thanh mà các loại đường khác không có được.
Cùng với nước, cơm thốt nốt cũng là hàng hóa thu hút nhiều khách du lịch phương xa tới đây tham quan. Cơm thốt nốt màu trắng ngà, mềm, dai, giòn giòn, ăn khá khoái khẩu khi cho thêm chút đường và nước đá đập nhuyễn.
Món ngon từ thốt nốt còn có thạch thốt nốt, được cho vào keo nhựa thanh sạch. Loại này chỉ cần ướp lạnh hoặc trộn với đá cây đập nhuyễn là đã cho ta thứ giải khát tuyệt hảo trong những lúc nắng nôi oi ả của mùa hè phương Nam dậy nắng lửa.
Nhưng tuyệt hơn cả là thạch thốt nốt. Loại này đã được các cơ sở sản xuất cho vào keo nhựa. Mua về, bạn chỉ việc mở nắp keo, dùng muỗng múc vừa thạch vừa nước cho vào ly với một ít nước đá đập, vừa quậy đều vừa nhấm nháp một cách sảng khoái.
Độc đáo hơn là bánh thốt nốt. Người ta lấy gạo Nàng nhen – đặc sản Bảy Núi - xay thành bột, ủ một đêm cho lên men, hoặc gạo xay xong, đem phơi khô và cất trong vòng một năm mới cho thứ bánh không mềm nhão. Lấy bột trộn với cơm thốt nốt (lựa cơm dày) và nước thốt nốt rồi gói trong tấm lá chuối theo hình chữ nhật, dẹp như chiếc bánh gói, xong đem hấp. Chừng tiếng đồng hồ, theo hơi nóng bốc ra từ nắp xửng là mùi thơm ngào ngạt gọi mời lan tỏa khắp xung quanh. Mở gói lá ra, bánh thốt nốt có màu vàng sáp trông rất bắt mắt.
Người ta còn làm bánh theo cách khác. Nhà văn Sơn Nam trong quyển “Gốc cây, cục đá và ngôi sao – Danh thắng miền Nam” đã mô tả: “… đặc sản là bánh thốt nốt. Như ta biết, thốt nốt là trái có xớ dày, chứa chất đường ngọt, phải mài xớ vỏ của trái, trộn với bột gạo, gói lại, hấp chín” (NXB Trẻ, 2006, tr. 115, 116). Tuy nhiên, tại chợ cửa khẩu Tịnh Biên, bánh thốt nốt được bán dưới hình thức giống như chiếc bánh bông lan, vàng ươm và đẹp mắt!
Với trái thốt nốt, cư dân vùng biên địa Bảy Núi kiếm sống cũng khấm khá. Đó có thể gọi là mùa “mật” của họ trong những ngày nắng lửa oi nồng.
Du lịch, GO! - Theo Phương Kiều - Thời báo kinh tế Sài Gòn, ảnh internet
Thứ Năm, 11 tháng 4, 2013
Các quán ốc Sài Gòn ngon trên đất Hà Thành
Đây đều là những quán khá bình dân, nằm ở vị trí trung tâm, không chỉ bán ốc mà còn phục vụ nhiều loại hải sản chế biến theo phong cách miền Nam giúp người Hà Nội được "đổi gió".
Ốc Vi phố Gia Ngư
< Quán Ốc Vi phố Gia Ngư.
Có thể coi ốc Vi là tiệm tiên phong về hải sản Sài Gòn ở Hà Nội, mở được khoảng 3 năm. Ban đầu xuất phát từ một tiệm vỉa hè nhỏ xíu trên phố Cửa Bắc. sau một thời gian, ốc Vi phát triển cửa hàng lớn hơn ở phố Gia Ngư (chợ Hàng Bè cũ).
< Chem chép nướng mỡ hành.
Vị trí tại đây trung tâm, không gian quán tương đối rộng rãi, khang trang so với khu phố cổ, cộng thêm có nhiều món ăn miền Nam mới lạ nên ngay từ những thời gian đầu khai trương, Ốc Vi trên phố Gia Ngư đã khá đắt hàng.
Quán có các món tủ như càng ghẹ xào me, ốc len xào dừa, chem chép xào rau muống, chem chép nướng mỡ hành, cơm rang cua, nui xào hải sản với mức giá trung bình từ 50.000 - 100.000 đồng/món.
Ốc Ken Đội Cấn
Quán tiếp theo phải nhắc đến là tiệm ốc Ken trên phố Đội Cấn. Quán này tuy chỉ nằm trong ngõ nhưng cũng được dân Hà Thành tìm đến khá đông.
Mặt tiền quán nhỏ nhưng có 4 tầng, có thể phục vụ những nhóm khách đông. Ưu điểm là quán nằm sát cạnh hồ, thoáng mát, khách có thể chọn ngồi trong nhà hoặc vỉa hè tùy thích.
< Lẩu hải sản me chua cay.
Ở đây ngoài các đồ hải sản thì còn có vài món miền Nam thơm ngon bổ rẻ rất được teen yêu thích như trứng cút lộn xào me, bắp xào tép, giá chỉ 25.000 - 30.000 đồng/đĩa.
Đến đây, bạn cũng nên ăn thử lưỡi vịt sapo, cháo ngao, các món ốc xào dừa hay xào tỏi. Hầu hết các món ở đây đều được đánh giá là thơm ngon, chế biến cầu kì, cẩn thân.
Quán còn có lẩu hải sản me chua cay khá lạ, có thể làm món "chốt hạ" lý tưởng cho khách.
Các món có mức giá từ 30.000 đồng trở lên.
Ốc me Xã Đàn
Ốc me nằm trên phố Xã Đàn hay còn gọi là Kim Liên mới. Quán mở được khoảng 1 năm. Điểm hạn chế là mặt bằng quán rất nhỏ nhưng bù lại buổi tối có thể ngồi được vỉa hè thoáng đãng.
Nhiều người đánh giá các món hấp dấm ở đây là ngon nhất. Nước hấp chế biến vừa miệng thơm mùi cốt dừa. Ở đây cũng có khoái khẩu của teen là trứng cút lộn xào me, làm rất ngon, đậm đà. Quán cũng có sáng tạo thêm lẩu hải sản nhúng dấm là lạ song chưa được đánh giá cao.
< Ốc điếu xào dừa.
Ngoài ra, ốc me bị một số khách phàn nàn là phục vụ hơi chậm. Nên ốc me có lẽ không thích hợp cho các thực khách nóng tính hay sốt ruột.
Giá các món ở đây trung tầm phổ biến khoảng 40.000 đồng/món.
Ốc Bông Hậu ngõ Tràng Tiền
Nằm tại một trong những ngõ ăn uống xôm nhất ở trung tâm Thủ đô, ốc Bông Hậu tuy chưa có tiếng là quán ngon Hà Thành song nếu ai hiếu kì, tò mò muốn biết "Hoa hậu bán ốc thế nào" thì có thể ghé tiệm này.
Quán do hoa hậu biển 2010 Nguyễn Thị Loan mở ra được nửa năm. Diện tích nhỏ, chủ yếu là ngồi vỉa hè nhưng quán trông khá bắt mắt và có phong cách. Từ không gian, biển bảng, thực đơn đến quần áo nhân viên đều "xuyệt tông" với màu xanh cốm mát mắt. Đến đây, bạn sẽ có dịp mục sở thị cô hoa hậu cao 1m74 ăn vận giản dị, nhiệt tình phục vụ các thượng đế.
Món ăn tại đây có lẽ còn gây tranh cãi nhiều. Người dễ tính thì vẫn khen ngon, chuẩn hương vị Sài Gòn. Người khó tính lại chê phục vụ chậm, thiếu chuyên nghiệp, đồ không tươi….
Nhưng dù sao thì hình ảnh hoa hậu chịu thương chịu khó đi bán ốc vẫn rất thu hút nhiều người nên ốc Bông Hậu vẫn kinh doanh ổn, buổi chiều tối khá đông. Hơn nữa quán có vị trí trung tâm nên cũng tiện đường để thực khách khám phá.
Ốc Sài Gòn phố Trần Nhân Tông
Quán này sinh sau đẻ muộn nhất, chỉ mới có mặt ở Hà Nội khoảng một tháng. Quán có vị trí rất đắc địa, nằm ở ngã tư với 2 mặt tiền quay ra phố Trần Nhân Tông và Triệu Việt Vương. Tuy nhiên, nhược điểm là diện tích rất bé. Ở trong nhà có lẽ chỉ ngồi được tối đa 3 bàn, khách chỉ ngồi chủ yếu ngoài vỉa hè.
Quán mới mở nên chưa nhận được nhiều lời bình phẩm từ khách hàng, song nơi đây khá tự tin với một số món được khẳng định là "lạ, ít nơi có" như: ốc đỏ, ốc bàn tay, ốc vú vàng.
Giá cả cũng tương tự như các tiệm phổ biến, các món dao động từ 30.000 - 80.000 đồng.
Du lịch, GO! - Theo Infonet
Ốc Vi phố Gia Ngư
< Quán Ốc Vi phố Gia Ngư.
Có thể coi ốc Vi là tiệm tiên phong về hải sản Sài Gòn ở Hà Nội, mở được khoảng 3 năm. Ban đầu xuất phát từ một tiệm vỉa hè nhỏ xíu trên phố Cửa Bắc. sau một thời gian, ốc Vi phát triển cửa hàng lớn hơn ở phố Gia Ngư (chợ Hàng Bè cũ).
< Chem chép nướng mỡ hành.
Vị trí tại đây trung tâm, không gian quán tương đối rộng rãi, khang trang so với khu phố cổ, cộng thêm có nhiều món ăn miền Nam mới lạ nên ngay từ những thời gian đầu khai trương, Ốc Vi trên phố Gia Ngư đã khá đắt hàng.
Quán có các món tủ như càng ghẹ xào me, ốc len xào dừa, chem chép xào rau muống, chem chép nướng mỡ hành, cơm rang cua, nui xào hải sản với mức giá trung bình từ 50.000 - 100.000 đồng/món.
Ốc Ken Đội Cấn
Quán tiếp theo phải nhắc đến là tiệm ốc Ken trên phố Đội Cấn. Quán này tuy chỉ nằm trong ngõ nhưng cũng được dân Hà Thành tìm đến khá đông.
Mặt tiền quán nhỏ nhưng có 4 tầng, có thể phục vụ những nhóm khách đông. Ưu điểm là quán nằm sát cạnh hồ, thoáng mát, khách có thể chọn ngồi trong nhà hoặc vỉa hè tùy thích.
< Lẩu hải sản me chua cay.
Ở đây ngoài các đồ hải sản thì còn có vài món miền Nam thơm ngon bổ rẻ rất được teen yêu thích như trứng cút lộn xào me, bắp xào tép, giá chỉ 25.000 - 30.000 đồng/đĩa.
Đến đây, bạn cũng nên ăn thử lưỡi vịt sapo, cháo ngao, các món ốc xào dừa hay xào tỏi. Hầu hết các món ở đây đều được đánh giá là thơm ngon, chế biến cầu kì, cẩn thân.
Quán còn có lẩu hải sản me chua cay khá lạ, có thể làm món "chốt hạ" lý tưởng cho khách.Các món có mức giá từ 30.000 đồng trở lên.
Ốc me Xã Đàn
Ốc me nằm trên phố Xã Đàn hay còn gọi là Kim Liên mới. Quán mở được khoảng 1 năm. Điểm hạn chế là mặt bằng quán rất nhỏ nhưng bù lại buổi tối có thể ngồi được vỉa hè thoáng đãng.
Nhiều người đánh giá các món hấp dấm ở đây là ngon nhất. Nước hấp chế biến vừa miệng thơm mùi cốt dừa. Ở đây cũng có khoái khẩu của teen là trứng cút lộn xào me, làm rất ngon, đậm đà. Quán cũng có sáng tạo thêm lẩu hải sản nhúng dấm là lạ song chưa được đánh giá cao.
< Ốc điếu xào dừa.
Ngoài ra, ốc me bị một số khách phàn nàn là phục vụ hơi chậm. Nên ốc me có lẽ không thích hợp cho các thực khách nóng tính hay sốt ruột.
Giá các món ở đây trung tầm phổ biến khoảng 40.000 đồng/món.
Ốc Bông Hậu ngõ Tràng Tiền
Nằm tại một trong những ngõ ăn uống xôm nhất ở trung tâm Thủ đô, ốc Bông Hậu tuy chưa có tiếng là quán ngon Hà Thành song nếu ai hiếu kì, tò mò muốn biết "Hoa hậu bán ốc thế nào" thì có thể ghé tiệm này.
Quán do hoa hậu biển 2010 Nguyễn Thị Loan mở ra được nửa năm. Diện tích nhỏ, chủ yếu là ngồi vỉa hè nhưng quán trông khá bắt mắt và có phong cách. Từ không gian, biển bảng, thực đơn đến quần áo nhân viên đều "xuyệt tông" với màu xanh cốm mát mắt. Đến đây, bạn sẽ có dịp mục sở thị cô hoa hậu cao 1m74 ăn vận giản dị, nhiệt tình phục vụ các thượng đế.Món ăn tại đây có lẽ còn gây tranh cãi nhiều. Người dễ tính thì vẫn khen ngon, chuẩn hương vị Sài Gòn. Người khó tính lại chê phục vụ chậm, thiếu chuyên nghiệp, đồ không tươi….
Nhưng dù sao thì hình ảnh hoa hậu chịu thương chịu khó đi bán ốc vẫn rất thu hút nhiều người nên ốc Bông Hậu vẫn kinh doanh ổn, buổi chiều tối khá đông. Hơn nữa quán có vị trí trung tâm nên cũng tiện đường để thực khách khám phá.
Ốc Sài Gòn phố Trần Nhân Tông
Quán này sinh sau đẻ muộn nhất, chỉ mới có mặt ở Hà Nội khoảng một tháng. Quán có vị trí rất đắc địa, nằm ở ngã tư với 2 mặt tiền quay ra phố Trần Nhân Tông và Triệu Việt Vương. Tuy nhiên, nhược điểm là diện tích rất bé. Ở trong nhà có lẽ chỉ ngồi được tối đa 3 bàn, khách chỉ ngồi chủ yếu ngoài vỉa hè.
Quán mới mở nên chưa nhận được nhiều lời bình phẩm từ khách hàng, song nơi đây khá tự tin với một số món được khẳng định là "lạ, ít nơi có" như: ốc đỏ, ốc bàn tay, ốc vú vàng.
Giá cả cũng tương tự như các tiệm phổ biến, các món dao động từ 30.000 - 80.000 đồng.
Du lịch, GO! - Theo Infonet
Thứ Tư, 10 tháng 4, 2013
Bánh dứa “Ọm Chiếl” của người Khmer
Bánh dứa còn gọi là bánh rây, là món bánh truyền thống của người Khmer với tên gọi “Ọm Chiếl”, chỉ có nhiều ở Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, nơi nhiều người Khmer sinh sống.
Hiện nay nhiều gia đình người Việt cũng làm loại bánh này để ăn và đãi khách. Tuy cách chế biến ở mỗi nơi có khác nhau nhưng nét đặc trưng vẫn là mùi thơm lá dứa và vị béo ngọt của cơm dừa.
Để có được những cái bánh thơm ngon độc đáo, người làm bánh phải trải qua quá trình chuẩn bị công phu và tỉ mẩn, nhất là khâu xay nếp, xào nhân và rây bột. Công đoạn nào cũng đòi hỏi phải khéo tay và nhiều kinh nghiệm.
< Công đoạn rây bột.
Dụng cụ để chế biến “Ọm Chiếl” gồm có chảo, rây và bếp lò. Đầu tiên, người làm bánh chọn loại nếp rặt đem xay chung với lá dứa tươi để tạo hương thơm. Nhờ có lá dứa nên bột có màu xanh trông rất hấp dẫn.
Bột xay xong được đem đi bồng cho ráo nước, để khô, bóp cho thật nhuyễn. Nhân bánh làm bằng cơm dừa nạo, ngào chung với đường và đậu phộng rang giã nhỏ cho đến khi dẻo, khô và thơm.
< Cho nhân vào bánh.
Khi chảo vừa nóng lên, người làm bánh bắt đầu rây bột lên lòng chảo. Rải một lớp mỏng cho thật đều theo hình tròn, tiếp theo rắc nhân lên phần giữa của chiếc bánh. Xong cuốn bánh lại thành hình dẹp, trở đều cho đến khi bánh chín. Các thao tác phải tiến hành một cách thuần thục và nhanh chóng, nếu không bánh sẽ bị khét.
Muốn tận hưởng vị ngon của loại bánh này, người ta thường thưởng thức lúc bánh còn nóng. Mùi thơm của nếp dẻo pha trộn vị béo ngọt của nhân dừa, đặc biệt mùi lá dứa đặc trưng giúp người ăn có cảm giác thơm ngon, lạ miệng và kích thích vị giác. Càng ăn càng khoái khẩu vì hương vị không lẫn lộn với bất cứ loại bánh nào khác.
Bánh dứa “Ọm Chiếl” thường có mặt trong các ngày lễ hội truyền thống của người Khmer. Vào các ngày này, mỗi gia đình phật tử thường tự làm bánh dứa để mang vào chùa cúng Phật và dâng cho các sư dùng. Ngoài ra, các gia đình còn làm để ăn, đãi khách hoặc bán cho khách hành hương và du lịch.
Du lịch, GO! - Theo Hoài Vũ (Tuổi Trẻ online).
Hiện nay nhiều gia đình người Việt cũng làm loại bánh này để ăn và đãi khách. Tuy cách chế biến ở mỗi nơi có khác nhau nhưng nét đặc trưng vẫn là mùi thơm lá dứa và vị béo ngọt của cơm dừa.
Để có được những cái bánh thơm ngon độc đáo, người làm bánh phải trải qua quá trình chuẩn bị công phu và tỉ mẩn, nhất là khâu xay nếp, xào nhân và rây bột. Công đoạn nào cũng đòi hỏi phải khéo tay và nhiều kinh nghiệm.
< Công đoạn rây bột.
Dụng cụ để chế biến “Ọm Chiếl” gồm có chảo, rây và bếp lò. Đầu tiên, người làm bánh chọn loại nếp rặt đem xay chung với lá dứa tươi để tạo hương thơm. Nhờ có lá dứa nên bột có màu xanh trông rất hấp dẫn.
Bột xay xong được đem đi bồng cho ráo nước, để khô, bóp cho thật nhuyễn. Nhân bánh làm bằng cơm dừa nạo, ngào chung với đường và đậu phộng rang giã nhỏ cho đến khi dẻo, khô và thơm.< Cho nhân vào bánh.
Khi chảo vừa nóng lên, người làm bánh bắt đầu rây bột lên lòng chảo. Rải một lớp mỏng cho thật đều theo hình tròn, tiếp theo rắc nhân lên phần giữa của chiếc bánh. Xong cuốn bánh lại thành hình dẹp, trở đều cho đến khi bánh chín. Các thao tác phải tiến hành một cách thuần thục và nhanh chóng, nếu không bánh sẽ bị khét.
Muốn tận hưởng vị ngon của loại bánh này, người ta thường thưởng thức lúc bánh còn nóng. Mùi thơm của nếp dẻo pha trộn vị béo ngọt của nhân dừa, đặc biệt mùi lá dứa đặc trưng giúp người ăn có cảm giác thơm ngon, lạ miệng và kích thích vị giác. Càng ăn càng khoái khẩu vì hương vị không lẫn lộn với bất cứ loại bánh nào khác.
Bánh dứa “Ọm Chiếl” thường có mặt trong các ngày lễ hội truyền thống của người Khmer. Vào các ngày này, mỗi gia đình phật tử thường tự làm bánh dứa để mang vào chùa cúng Phật và dâng cho các sư dùng. Ngoài ra, các gia đình còn làm để ăn, đãi khách hoặc bán cho khách hành hương và du lịch.
Du lịch, GO! - Theo Hoài Vũ (Tuổi Trẻ online).
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)














.jpg)



















