Hiển thị các bài đăng có nhãn Xem cho biết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xem cho biết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2013

Tây Bắc và gánh xiếc rong

Một bài viết rất hay trên mạng (VTC) nói về một chuyến đi nghỉ xuân trên vùng cao Tây Bắc: 'chuyến đi nhỏ' của tác giả nhưng trao lại cho bọn trẻ vùng cao 'một núi' niềm vui. Sau khi mình truy một hồi để tìm bài gốc, cuối cùng nguốn chính tại blog Songthatcham, xin trích vào đây để các bạn xem... rồi cảm động và 'sướng lịm người', bạn nhé.

Mọi năm khi bọn nhóc được nghỉ xuân, mình và ba chúng nó hay sắp xếp tạm nghỉ để ở nhà với chúng. Nhà mình rất đơn giản, cứ quây quần với nhau là đã đủ vui rồi, chẳng phải đi đâu xa vừa tốn kém vừa mệt mỏi (lý luận của những kẻ vừa lười, vừa keo kiệt). Năm nay thì khác, từ đầu năm đã lên kế hoạch bàn soạn về việc diễn xiếc, chiếu phim cho bọn trẻ con Tây Bắc xem.

Mấy việc này mới nghe qua thấy thật hoang đường, nên định chỉ làm thử, xem cách thức thế nào cho hợp lý và hiệu quả có đáng để làm lâu dài hay không. Cũng không dám nói rộng ra ngoài, e có lời dè bỉu sẽ khiến mình nhụt chí nên mới rủ ông xã đi cùng và dùng lũ con làm đội quân hỗ trợ để lặng lẽ tiến hành. Thế là một công ba bốn việc, vừa chạy thử một chương trình mà mình hằng mơ ước, vừa đưa bọn trẻ lên thăm các em bé Tây Bắc, vừa tiện đường khảo sát thêm địa bàn cho Gánh hàng xén, vừa đi tìm hiểu trà Suối Giàng…

Gánh xiếc rong

Việc đầu tiên là đi tìm diễn viên xiếc, ảo thuật, hề… Ðủ các loại quan hệ được bới tung lên để tìm đúng người, đúng việc. Có nhóm bạn đề nghị giúp không cần thù lao nhưng lại là nhảy hiphop, mình không muốn ký ức trong trẻo của bọn trẻ bị cấy vào những hình ảnh lai căng nên đành từ chối…

Có người giới thiệu nhóm trình diễn nghệ thuật đường phố nhưng khi mình đề nghị được xem trước (ít ra là đề cương) buổi biểu diễn của các bạn tại Hà Nội thì lại bị khước từ, mình vốn không có thói quen “mua mèo trong bị” nên cũng phải bỏ luôn…

Cùng đường, vạn bất đắc dĩ, ông xã đành gọi cho anh hàng xóm cũ đang làm ở Liên đoàn Xiếc Việt Nam, nhờ anh ấy giới thiệu hộ. Kể ra thì ngay ban đầu hai vợ chồng cũng đã nhờ rồi, nhưng nghe cái giá thù lao cho một đội hình xiếc (3-4 nghệ sĩ) chát quá, kể cả khi đã có lời hứa tài trợ thù lao cho nghệ sĩ của người bạn ở Canada thì vẫn cứ thấy xót xa.

Sau mấy lần bàn đi tính lại, cuối cùng cũng mời được hai nghệ sĩ hề, đi xe du lịch giường nằm lên trong đêm, diễn hai suất ở hai điểm trường khác nhau rồi tối lại quay về Hà Nội.

Tính xong việc xiếc, đến chiếu phim thì đơn giản hơn: máy chiếu, màn chiếu… thứ ở nhà có sẵn, thứ đi thuê. Ðến phần điện thì đau đầu hơn: các trường báo điện không đủ điện áp, phập phù và cũng không có dây để kéo ra các vị trí cần thiết. Loa để phục vụ nhạc cho các tiết mục xiếc cũng không có. Thế là một hồi chạy ngược xuôi, đằng sau xe mình đầy nhóc dây điện, loa, ampli, máy móc và cả một chiếc ổn áp to tướng nặng như cái cối đá lỗ.
Mẹ Vừng thủ thỉ: “Chị đi thì cho em gửi một ngàn cái bánh mì ngọt lên cho các con”. Lũ nhóc nhà mình thì tất bật mua sắm bóng bay và kẹo cho các em…

Một đối tác người Mỹ của mình (người đã tài trợ toàn bộ ủng và ống nước cho phiên chợ Pa Cheo 1) cũng sắp xếp thời gian qua làm việc với mình sao cho trùng với chuyến đi để theo lên thăm bọn trẻ và tìm hiểu về loại trà đặc biệt mà mình vẫn khoe khoang.

Cuối cùng, ngày khởi hành cũng đến. Cả nhà hồ hởi phấn khởi chất lên hai cái xe bốn chỗ chở ì ạch đồ nghề điện đóm và kẹo bánh, thẳng tiến Lào Cai.

Ngủ lại một đêm ở Sapa, sáng sớm ra đón hai nghệ sĩ xiếc ở bến xe, đưa hai bác đi ăn lót dạ xong là lên đường. Trường Tiểu học Pa Cheo đã được báo trước là sẽ có đoàn diễn xiếc, chiếu phim cho các cháu xem vào sáng hôm ấy nhưng các thầy cũng chưa hiểu đầu cua tai nheo gì cả, đến khi thấy một đoàn rồng rắn lên mây khiêng máy móc đạo cụ vào thì cả trường òa lên sung sướng.

Trong lúc chờ các nghệ sĩ xiếc thay y phục biểu diễn và hóa trang, ông xã cùng hai lái xe của đoàn đã dựng xong góc chiếu phim dã chiến cho bọn trẻ con tiểu học và mẫu giáo (gọi là dã chiến vì dùng cả chăn của các cô giáo và phông hội nghị ở phòng họp mà che cửa sổ cho đủ tối để xem phim).

Mình và chị đối tác người Mỹ thì lo chia bánh phát kẹo cho đám khán giả nhí đang phấn khích đến cực độ. Hai đứa con Chít và Xiu của mình thì lo bơm bóng bay sẵn. Cái gánh xiếc rong này mới mở hàng lần đầu mà ai vào việc nấy răm rắp cứ như đã quen lưu diễn từ thuở nảo thuở nào.

Chỉ có mỗi bộ phim “Tom và Jerry” của Disney mà bọn trẻ con cười còn hơn là bị ai vật ra cù vào nách. Những gương mặt bình thản, những ánh mắt trầm lắng, thảng buồn mà mình hay gặp trong những lần lên Tây Bắc vụt biến mất. Thay vào đó là những gương mặt sáng bừng hứng khởi, những ánh mắt long lanh thích thú và những cái miệng sún răng cười hết cỡ…

Bọn trẻ Tây Bắc kỳ lạ lắm, khi người lớn trao quà cho chúng, chúng thường lễ phép đón lấy với vẻ mặt không vui không buồn, tuyệt không bao giờ thấy chúng cười thành tiếng hay reo lên vui sướng, bất kể đó là món đồ đẹp hay lạ như thế nào.

Ðến nỗi mình từng nghĩ có lẽ cái không khí vắng vẻ, tĩnh mịch nơi núi cao đã thấm vào máu của đám trẻ con, khiến chúng có cái phong thái bình lặng như thế. Hóa ra không phải… chẳng qua chúng chưa bao giờ được tặng đúng thứ chúng cần: những hình ảnh sinh động, ngộ nghĩnh, thu hút sự chú ý và đầy kịch tính như những bộ phim hoạt hình mà những đứa trẻ thành phố được xem thừa mứa hàng ngày.

Ðứng bên ngoài phòng chiếu phim đầy ắp tiếng reo cười thích thú ấy, mình nhắm mắt lại, mỉm cười mà nước mắt trào ra, cứ như thấy lại mình cùng đám bạn thời thơ bé tối Chủ nhật hò reo chạy đến nhà nào có TV để xem ké bộ phim hoạt hình Nga “Hãy đợi đấy!”…

Không dám nói rằng bát cơm có thức ăn hay chiếc áo ấm, đôi ủng là không quý giá, nhưng ngay lúc ấy, mình chợt nhận ra nếu bảo những đứa trẻ ở bên trong phòng chiếu kia rằng chúng có quyền lựa chọn giữa những bữa ăn ngon, những món đồ mới và một buổi xem phim như thế này, chắc hẳn tất cả chúng nó đều chọn xem phim hết.

Tiếng cười giòn giã của đám học sinh mẫu giáo, tiểu học ở phòng chiếu phim khiến các anh chị học sinh cấp 2 được nghỉ học để sang xem xiếc chung với các em cứ bồn chồn không yên, thế là buổi chiếu phải ngừng lại để buổi diễn xiếc được bắt đầu…

Toàn bộ 3 trường mẫu giáo, tiểu học và trung học cơ sở tổng cộng hơn 200 học sinh, ngồi kín khuôn viên sân trường tiểu học. Hai chú hề xiếc tha hồ tung hoành trên sân khấu là bậc tam cấp lên sảnh hành lang của trường: nào hát, nào đánh đàn nước, nào tung hứng, nào thăng bằng, nào diễn kịch…

Buổi diễn chưa tới một tiếng đồng hồ mà cả hai diễn viên mướt mồ hôi. Toàn bộ khán giả cũng cười mỏi miệng. Lát sau trong bữa trưa, bác diễn viên lớn tuổi mới tâm sự với mình: “Thường ra diễn viên hài không bao giờ diễn liên tục mà diễn xen kẽ vào giữa các tiết mục khác, vì lần này không có nhiều diễn viên để diễn đệm cho nhau thành ra thấy đuối sức vì phải nối các tiết mục vào làm một lèo. Nhưng thấy bọn nhỏ cười như nắc nẻ nên bọn anh diễn hưng phấn khác hẳn bình thường ở rạp”.

Ngày hội bất ngờ ở bản

Nếu buổi diễn ở điểm trường chính Pa Cheo tập trung được lượng khán giả đông đảo thì không khí buổi diễn ở Pờ Sì Ngài lại náo nức theo kiểu khác.

Từ lúc bọn mình đang ăn vội bữa cơm trưa ở Mường Hum đã nhận điện thoại của các cô giáo Pờ Sì Ngài liên tục: “Chị ơi, đoàn mình đến đâu rồi, sắp đến chỗ bọn em chưa ạ?… “Bọn em nghe mấy bạn dạy ở trường chính khoe về buổi diễn sáng nay ở ngoài ấy rồi, đang hồi hộp quá chị ơi!…”

Các thầy cô đi xe máy ra tận ngoài chỗ đậu xe để giúp đoàn thồ cái ổn áp và mấy thứ đồ nặng vào, còn những thứ cồng kềnh nhưng nhẹ nhàng thì cả đoàn chia nhau khiêng vác, kể cả hai bác diễn viên xiếc cũng phải ôm ôm xách xách đồ vào cho các cháu. Mấy học sinh lớn được thầy cô dẫn ra phụ khiêng đạo cụ thì vác đồ chạy rầm rập vào trước rồi. Ðoàn đi bộ đến đâu, thầy cô gọi bà con đến đấy: “Xem xiếc nào, vào trường xem xiếc, xem phim nào…!”. Các gánh xiếc rong thời xưa ít ra cũng có nhạc nhẽo í éo hay cái loa tay để chào mời, gánh xiếc rong nhà mình thì đi bước thấp bước cao, mồm miệng dùng vào việc thở cả rồi, việc quảng cáo hoàn toàn nhờ vào những lời gọi truyền miệng từ thầy cô như thế.

Vào đến trường, hai bác hề lánh nhờ vào phòng ở của cô giáo để hóa trang và thay quần áo, ông xã mình và hai chú lái xe lo đấu điện, kéo loa, dựng màn hình… Khó khăn đầu tiên là không có phòng học nào đủ lớn để chiếu phim cho bọn nhóc của cả hai trường Mầm non và Tiểu học xem, thế là các cô giáo Mầm non nói luôn: “Dỡ vách ngăn 2 phòng học của bọn em ra là được chị ạ!”.
Bọn trẻ con thì không có từ nào để tả ngoài 3 chữ… “sướng lịm người”. Cả những ông bố bà mẹ nhanh chân đến trước cũng chen chúc đứng xem và cười ngất ngây với bọn trẻ.

Hỏi đến nước để chuẩn bị đạo cụ cho bác nghệ sĩ già, thấy mấy cô giáo tần ngần nhìn nhau rồi vào bếp xách ra một xô nước nhỏ, mình hiểu ngay đó hẳn là nước các cô dành cho bữa cơm chiều, nên nói nửa đùa nửa thật: “Yên tâm, bọn chị dùng xong sẽ trả lại gần nguyên vẹn, mà cũng không nhiễm bẩn gì đâu”. Các cô cười xòa: “Không phải bọn em sợ hết, chỉ sợ chỗ này không đủ, mà bây giờ đi xách thì phải cả tiếng nữa mới có”.

Phim ở bên lớp Mẫu giáo xong, cả đám “chuột con” lít nhít đội ghế lúp xúp chạy qua sân trường Tiểu học để xem xiếc. Chúng vội đến mức có đứa đánh rơi cả kẹo bánh vừa được phát (mải xem phim còn chưa kịp ăn) mà cũng không thèm quay lại nhặt. Ðó là điều mình chưa từng thấy ở những nơi như nơi này.

Nói cho công bằng, ngay cả mấy đứa nhóc nhà mình lớn bằng chừng ấy mà số lần xem xiếc ở rạp còn đếm trên đầu ngón tay, làm gì mà bọn trẻ ở đây chẳng háo hức. Cookie, con trai út của mình xem đến lần thứ hai những tiết mục y hệt nhau trong một ngày mà vẫn cười ngặt nghẽo không dừng lại được.

Suốt cả mấy ngày hôm sau, Cookie hành hạ mọi người trong đoàn bằng những trò nhái lại mấy tiết mục của các chú hề, cho nên mình đoán ở gia đình các bé cũng thế, bọn trẻ con sẽ còn kể đi kể lại mãi với nhau về buổi xem xiếc nhớ đời ấy và mỗi lần kể lại là lại được cười những trận cười thỏa thuê.

Bà con kéo đến đông như trảy hội, quần áo ăn mặc cũng tươm tất hơn những lần bình thường mình gặp họ, có những loại khăn, mũ mình mới thấy lần đầu, có lẽ là trang phục mọi người dùng trong những ngày đặc biệt.

Chả cứ trẻ con, người lớn cũng cười nghiêng cười ngả. Mình đứng quan sát mấy chị địu con trên lưng cứ bám lấy nhau cười giàn giụa nước mắt, chỉ lo các chị ấy ngả quá người ra phía sau tí nữa thì những đứa trẻ có cơ bị rớt xuống đất.

Mình không chắc mọi người hiểu hết những điều các chú hề nói, vì người dân ở đây nói và nghe tiếng Kinh chẳng tốt lắm, nhưng nhìn điệu bộ và các động tác của mấy chú hề họ đã đủ cười bò ra rồi.

Ðột nhiên mình nhận ra sức mạnh ghê gớm của nghệ thuật biểu diễn: chẳng cần ngôn ngữ, chỉ bằng hình thể, ánh mắt, nụ cười… người ta thông hiểu và chia sẻ sự hài hước một cách thoải mái như không có rào cản nào cả. Cái không gian biểu diễn ấm áp và gần gũi này cũng khiến mình choáng váng vì hiệu quả mạnh mẽ của nó.

Mình thấy con người và cảnh vật ở Pờ Sì Ngài thân quen với mình lắm, cứ như vừa đi đâu xa được trở về nhà. Trên đường bọn mình quay ra, những người lớn đến trường xem cứ chạm tay vào bọn mình và cười tủm tỉm, đó dường như là cách mọi người nói lời cảm ơn.

Thực sự lời cảm ơn ấy phải do bọn mình nói ra, vì chưa bao giờ bọn mình được hưởng niềm vui lớn lao và sâu sắc như lần ấy, trên đường về ai cũng đồng ý với nhau như vậy.

Có mỗi một chuyện kém vui, bác hề già đến lúc về mới thú nhận là bác đau lưng quá vì xe chạy cả ngày toàn trên đường xóc như điên, nếu mà có lần sau chắc bác phải nhờ diễn viên khác trẻ hơn đi hộ. Mình nghĩ bác không tham gia được nữa cũng là một thiệt thòi cho các cháu, vì không có gì cảm động bằng nhìn một người lớn tuổi diễn trò trẻ con để chọc cho trẻ con cười.

Du lịch, GO! - Theo Songthatcham.wordpress

Thứ Tư, 17 tháng 4, 2013

Làng vĩ cầm duy nhất tại Việt Nam

Làng Then, thuộc xã Thái Đào – Lạng Giang - Bắc Giang, ngôi làng duy nhất tại Việt Nam có truyền thống chơi vĩ cầm suốt gần 60 năm nay. Đây là ngôi làng đã sinh ra những người làm văn hóa – nghệ thuật, âm nhạc như: Trần Vinh, Bùi Đắc Sừ, Quốc Minh, Hà Huy Bái, Lê Văn Khách, Nguyễn Văn Đưa, là những nghệ sĩ, diễn viên, đạo diễn, nhạc công đã nổi danh trên làng văn hóa nghệ thuật.

Cách Hà Nội khoảng 70 km theo đường quốc lộ 1A, làng Then đơn sơ và bình dị, chắc không ai ngờ được đây là ngôi “làng vĩ cầm” độc nhất vô nhị tại Việt Nam, trải qua bao nhiêu thế hệ, đào tạo biết bao nghệ nhân vĩ cầm, nét chất phát của thôn quê và dòng máu nghệ thuật như hòa quyện vào nhau, tạo ra một nét đẹp rất riêng của vùng đất văn hóa này.

Đường làng quanh co và yên tĩnh, chúng tôi hỏi thăm về nhà một nghệ nhân chơi vĩ cầm lâu năm, người ta cười nói: “Làng này chơi vĩ cầm thì nhiều lắm”, rồi nhanh tay chỉ hướng đi. Ông Nguyễn Hữu Hùng, một trong những thế hệ vĩ cầm của làng, ông được làm quen với chiếc đàn từ khi còn trẻ, đến nay đã mấy chục năm, "tôi chơi đàn từ năm 13 tuổi, đến nay cũng vài chục năm rồi, trước trẻ thì ham, giờ có tuổi, cũng nhiều việc phải làm, thỉnh thoảng có thời gian mới tập hợp anh em ngồi chơi violon" -ông chia sẻ.

Rời khỏi nhà ông Hùng, với những câu chuyện về chiến tích của Làng Then về văn hóa nghệ thuật từ thời kháng chiến, ông Hùng nói: "Muốn tìm hiểu thật kĩ về truyền thống chơi vĩ cầm, cô sang gặp ông Nguyễn Hữu Đưa, ông ấy là người thầy đầu tiên dạy chúng tôi, ông học đàn từ những năm 1956, có công đào tạo biết bao thế hệ học trò vĩ cầm của ngôi làng này"

Nhà ông Đưa nằm sâu trong đồi, khi bước tới cổng, tôi bắt gặp một nụ cười rạng rỡ của một cụ bà: "các cháu tìm ai", một cụ ông đang gánh nước vào sân giếng. Biết chúng tôi tìm ông Đưa, bà mời vào nhà uống nước, "khổ, ông già rồi, tai nghe không còn rõ nữa, nhưng kéo đàn vẫn còn minh mẫn lắm" - bà cười nói.

Trong ngôi nhà nhỏ đơn sơ của ông bà, chắc không ai ngờ được cũng chính là lớp dạy violon của ông Đưa, tóc ông đã bạc, tay chân cũng nhăn nheo vì tuổi già, sức yếu, nhưng cứ hễ động đến cây đàn ông lại say sưa kéo đủ các bản nhạc. Trên tường, trong ngăn tủ, đầy những bức ảnh ông đi biểu diễn, những cuốn sách viết những bản nhạc ông yêu thích được lưu giữ cẩn thận mấy chục năm nay. Ông kể: "Ngày xưa, cứ mỗi lần dạy đàn cho mấy đứa trẻ, tôi sáng đạp xe ra Hà Nội chọn đàn, rồi tối lại đem về để hôm sau có đàn cho bọn trẻ học, nhưng giờ già rồi, không đi nổi nữa". Cây đàn ông đang giữ đã theo ông mấy chục năm nay, cứ hễ hỏng ông lại tự ngồi sửa, ông quý cây đàn đó, ví nó đã theo ông suốt cả cuộc đời.

Tiếng vĩ cầm vang dưới lũy tre làng, ông say sưa kể về một thời tuổi trẻ của mình, đến với vĩ cầm cũng là một cái duyên, một niềm đam mê lớn của đời ông, ông đã dành gần cả cuộc đời cống hiến cho nó. "Giờ ông già rồi, có thể quên nọ quên kia, nhưng vĩ cầm chắc không bao giờ quên được"- cụ bà chia sẻ.

Ngôi làng nhỏ, nhưng lưu giữ một truyền thống lớn, về thăm làng Then, du khách có thể thưởng thức âm thanh violon vô cùng mộc mạc của những người dân giản dị nơi đây. Được chiêm ngưỡng những cây đàn lâu đời và được nghe về lịch sử hào hùng trong truyền thống nghệ thuật của làng Then.

- TS Nguyễn Xuân Diện, Viện Nghiên cứu Hán Nôm: Làng Then chính là quê của nhiều diễn viên, nhạc công nổi tiếng như: đạo diễn - NSND Bùi Đắc Sừ và Hà Quốc Minh (nguyên Giám đốc và đương kim Giám đốc Nhà hát Chèo Việt Nam), nhạc sĩ Trần Vinh (Nhà hát Chèo Việt Nam)… Người già trong làng kể rằng xưa vào mỗi dịp xuân hội, làng mời một gánh tuồng về diễn mấy đêm liền, lại còn mời cả giáo phường ca trù về hát thờ trước cửa đình.

- Nhạc sĩ Phạm Chỉnh, Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa Thông tin Thành phố Hà Nội cho biết rất bất ngờ khi thấy những người nông dân làng Then đọc được tổng phổ và dù tiếng đàn chưa thực sự chuyên nghiệp nhưng cách chơi đã rất chuyên nghiệp. Những người dân làng Then thực sự là những nghệ sĩ rất có phong cách và đầy tính ngẫu hứng.

- GS Lê Văn Cường, Đại học Paris 1, Pháp bảo ông đã đi nhiều nơi trên thế giới nhưng chưa thấy có một làng nào yêu nhạc và có một dàn nhạc độc đáo như làng Then.

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Nhung (Vietnamnet), SaigonGP...

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2013

Khám phá hang dung nham dài nhất ĐNÁ

Không có vẻ đẹp huyền bí, lộng lẫy được tạo bởi những khối thạch nhũ như các hang động có nguồn gốc đá vôi tại một số tỉnh miền núi phía Bắc, những hang dơi tại khu vực rừng giá tỵ nằm dọc quốc lộ 20 (thuộc địa bàn 2 huyện Định Quán và Tân Phú - Đồng Nai) còn giữ được nhiều nét nguyên sơ.

< Chỗ rộng nhất của hang dơi.

Nhóm hang động này đang được nhiều người biết đến khi nắm giữ một kỷ lục mới về hang động có nguồn gốc dung nham tại khu vực Đông Nam Á.

Từ những thông tin do Viện Sinh học nhiệt đới và Hội Hang động Berlin (Đức) cung cấp, chúng tôi đã tìm đến các hang dơi tại khu vực này để cùng trải nghiệm và tìm hiểu những nét hoang sơ, mang nhiều màu sắc huyền bí tại đây.

Bí ẩn hang Dơi

Ông Đỗ Hữu Đức, Trưởng trạm giống nông nghiệp La Ngà (thuộc Công ty cổ phần giống lâm nghiệp vùng Đông Nam bộ), cho biết, nằm sâu bên trong lòng đất, ngay dưới khu rừng giá tỵ chạy dọc theo hai bên quốc lộ 20 có 7 hang dơi.

< Miệng hang rộng đủ để nhiều người chui qua cùng lúc.

Ẩn khuất trong nương rẫy của nhiều hộ nông dân thuộc các xã: Phú Lợi, Phú Tân (huyện Định Quán) còn có thêm 4 hang dơi nữa. Những hang động này đều có điểm chung là hầu như chỉ có dơi sinh sống. Có lẽ vì thế mà khi phát hiện, người dân nơi đây gọi chúng là những hang dơi.

Dẫn chúng tôi vào thám hiểm hang dơi nằm trên phần diện tích đất canh tác của một gia đình thuộc thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú (đoạn giáp ranh giữa 2 huyện Tân Phú và Định Quán), ông Nguyễn Văn Trạng (ngụ xã Phú Tân, huyện Định Quán), cho biết: “Tôi đã từng hướng dẫn cho nhiều đoàn khách trong và ngoài nước đến tham quan, khảo sát các hang dơi ở khu vực này từ năm 2005. Tuy nhiên, tôi cũng không dám mạo hiểm tìm hiểu hết những hang động nơi đây bởi mỗi hang còn đang ẩn chứa nhiều điều huyền bí.

< Sơ đồ miêu tả ngăn hang Dơi 1 (vòng cung bên trên - cave 1) và hang Dơi 2 (cave 2). Hình tròn ở giữa là đoạn đứt gãy mà nếu tính cả đoạn này, hang Dơi 1 là hang động dung nham dài nhất Đông Nam Á.

Càng đi vào sâu bên trong mức độ hiểm nguy, cộng với môi trường sống khắc nghiệt (thiếu khí oxy, thiếu ánh sáng, chênh lệch nhiệt độ với môi trường bên ngoài…) càng lớn.  Do đó, nếu không có những thiết bị hỗ trợ cần thiết, thì rất dễ làm chùn chân, thậm chí gây nguy hiểm cho bất cứ ai muốn khám phá các hang động nơi đây”.

Để chuyến đi vào hang dơi được an toàn, ông Trạng phải chuẩn bị một loại đèn soi đội đầu và một cây đèn măng-sông lớn. 3 giờ chiều, chúng tôi bắt đầu tiến vào hang dơi nằm trên phần đất của ông Trạng. Miệng hang ở đây rộng hơn 3 m, 2 - 3 người có thể chui vào cùng lúc. Mới vào bên trong, mùi hôi đặc trưng của phân dơi ngay lập tức xộc vào mũi.

Bên trong hang, nhiều đoạn rộng gần chục mét, cao hơn 4m, nhưng cũng có đoạn lối đi hẹp, thỉnh thoảng lại có những ụ đất, đá chắn ngang khiến cả đoàn phải khom người, rồi bò mới qua được. Trên suốt quãng đường dài hơn 300 m (tính từ miệng hang), đâu đâu cũng thấy những con dơi treo mình trên trần hang. Bị ánh đèn soi chói mắt, chúng đồng loạt vỗ cánh bay loạn xạ.


Theo tài liệu báo cáo khảo sát vừa thực hiện tại các hang động này của Viện Sinh học nhiệt đới và Hội Hang động Berlin, các nhà khoa học còn tìm thấy sự sống phong phú với nhiều chủng loại động vật khác, như: các loài động vật thuộc nhóm nhện, rết, bọ cạp, dế hang, ruồi, nhiều loài ếch nhái, động vật có vú, cùng những rễ cây to  của rừng giá tỵ ăn sâu xuống đây.


Ở km 123 và km 122 Quốc lộ 20, đi về phía bên trái, vào khoảng 150 m (tính theo hướng từ Dầu Giây đi Đà Lạt), chúng tôi đã có chuyến thám hiểm tại 3 trong tổng số 7 hang dơi nằm bên trong khu rừng giá tỵ (thuộc huyện Định Quán). Tại những hang này, bên cạnh những miệng hang lớn còn có những hang rất nhỏ, chỉ vừa đủ cho một người có thể trạng trung bình chui lọt qua.

“Tất cả những hang dơi nằm ở bên trong khu rừng giá tỵ và các hang dơi khác nằm trên phần đất của các hộ dân trong khu vực có đặc điểm giống nhau, là đều được hình thành từ những dòng chảy dung nham núi lửa hoạt động từ thời xa xưa với vô số những con dơi trú ẩn bên trong. Trong đó, có nhiều hang đã được phát hiện là ăn thông với nhau” - ông Trương Bá Vương, thành viên đoàn khảo sát (Viện Sinh học nhiệt đới thuộc Viện hàn lâm Khoa học - công nghệ Việt Nam), cho biết.

Cần được bảo tồn

Hệ thống hang động tại Đồng Nai không nhiều. Tuy nhiên, theo tài liệu của Viện Sinh học nhiệt đới và Hội Hang động Berlin, chỉ tại địa bàn thuộc 2 huyện Định Quán và Tân Phú, đoàn đã tiến hành khảo sát tổng cộng được 11 ống/hang dung nham với tổng chiều dài 1,8km.

“Trong số này, hang động dài nhất được tìm thấy là hang dơi được ngăn cách bởi sự sụp đổ, đứt gẫy tạo ra 2 hang: hang dơi 1 và hang dơi 2 (tại km 122). Trong đó, hang dơi 1 có chiều dài là 426 m, nơi được ghi nhận là rộng nhất của hang này có chiều cao lên tới 4 m và chiều rộng 10 m” - ông Vương cho biết thêm.

< Scutigère: Loài Thereuopoda longicornis (Fabricius 1793)

Đây quả là một sự ưu ái của thiên nhiên đối với khu vực 2 huyện miền núi của tỉnh. Tuy nhiên, để phát triển và bảo tồn những món quà thiên nhiên ban tặng và còn mang nhiều nét nguyên sơ, mới lạ này rất cần các nhà khoa học, các ngành chức năng tiến hành nghiên cứu làm rõ và có hướng bảo vệ thích hợp. Bởi hiện nay, theo phản ánh của nhiều hộ dân, hàng ngày vào lúc chập choạng tối, khu vực này có nhiều đoàn người xách theo đèn pin, lưới mắt cáo tìm đến các cửa hang để bắt dơi.

Ông Nguyễn Văn Trạng cho biết, trước kia thịt dơi chỉ dùng để chế biến thức ăn của người dân trong những ngày nông nhàn. Nhưng hiện nay, những món ăn chế biến từ thịt dơi đã trở thành đặc sản. Chính vì bị đánh bắt thường xuyên nên nhiều đàn dơi đã chọn cách chuyển đến các hang động tại những địa phương khác để sinh sống. Điều này đã làm cho một số hang trong vùng không còn cảnh sinh sống đông đúc của dơi như trước.

< Amblypyge: Loài Phrynichus orientalis - Weygoldt,1998

Ông Trương Bá Vương (Nghiên cứu viên, Viện Sinh học nhiệt đới (thuộc Viện hàn lâm Khoa học - công nghệ Việt Nam), thành viên đoàn khảo sát:

Với kết quả tìm được thì hang động dơi tại khu vực giáp ranh giữa 2 huyện Tân Phú và Định Quán sẽ trở thành hang dung nham dài nhất khu vực Đông Nam Á tính cho đến thời điểm hiện nay (dài hơn ống dung nham Gua Lawah có chiều dài 400 m của Indonesia). Phát hiện này dự kiến sẽ được Hội Hang động Berlin xuất bản thành một báo cáo đầy đủ bằng tiếng Anh, bao gồm: phần bản đồ và phần mô tả về các hang động. Dự kiến sẽ được xuất bản trên ấn phẩm Speleological Berlin Speleoclub của hội.

Bà Võ Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm xúc tiến du lịch tỉnh (Sở Văn hóa - thể thao và du lịch):

< Loài Dơi, có thể loài cf. Hipposideros pomona

Đã từng dẫn nhiều đoàn học sinh, sinh viên của nhiều trường đại học trong khu vực Đông Nam bộ đến tìm hiểu và nghiên cứu tại hang dơi ở 2 huyện Tân Phú và Định Quán, tôi nhận thấy những địa điểm này rất có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, thám hiểm hang động. Đây là hoạt động sẽ góp phần quảng bá hình ảnh du lịch tỉnh nhà đến với bạn bè trong và ngoài nước. Tuy nhiên, để có thể biến mong muốn đó thành hiện thực thì đòi hỏi các cơ quan chức năng, các nhà nghiên cứu khoa học cần thực hiện nhiều đợt khảo sát để đánh giá mức độ an toàn, tác động của du lịch đối với môi trường sinh thái.

Du lịch, GO! - Theo Văn Truyên (Đồng Nai Online), ảnh internet

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013

Người Mày ở Quảng Bình

Người Mày là một trong những bộ tộc ít người hiện còn lại ở Quảng Bình, cư trú chủ yếu trong 2 xã Trọng Hóa và Dân Hóa thuộc huyện Minh Hóa. Gắn bó với vùng núi rừng và thiên nhiên khắc nghiệt của Quảng Bình từ bao đời nay, người Mày đã xây dựng được những tập quán sinh hoạt văn hóa rất riêng, trong đó có những câu ca điệu hát, lời ru mộc mạc mà đằm thắm, thấm đẫm tình người…

Tháng 10 năm 2012, bộ đội biên phòng Quảng Bình vừa khánh thành bản mới cho người Mày ở huyện vùng biên Minh Hóa, Quảng Bình. Nhân dịp này, CTV báo Pháp Luật TP.HCM đã vào tận bản làng, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với người dân tộc anh em để tìm hiểu về phong tục tập quán và đời sống văn hóa của tộc người có hơn vài trăm nhân khẩu này.

Đi tìm vùng đất truyền thuyết

Đường vào với anh em người Mày ở miền biên viễn Minh Hóa, Quảng Bình đi trên núi cao, từng lớp mây xếp lớp như đang lên trời. Bản mới của họ được làm trên một quả đồi như tổ chim đại bàng hùng vĩ, khổng lồ, được tạo ra theo tục lệ cổ xưa của dân tộc này.

Người Mày là tộc người duy nhất chỉ sống ở miền biên viễn Minh Hóa, Quảng Bình, tại hai xã Dân Hóa, Trọng Hóa, với dân số nhỉnh hơn vài trăm người, sống men theo những cái rẫy dốc cao của núi rừng giáp Lào và men khe suối ở thượng nguồn. Mày, theo tiếng của tộc người anh em này có nghĩa là đầu nguồn con nước. Tộc người này thuộc nhóm dân tộc Chứt, là hệ gia đình của nhóm anh em Rục, Mày, Sách, Khùa. Tính tình khí khái, họ chỉ sống ở đầu nguồn nước, bởi theo truyền thuyết, người Mày sinh ra để trở thành chiến binh bảo vệ cương vực cho những người anh em phía dưới chân núi.

Tục ở cổ xưa của người anh em này vốn chọn những quả đồi cao giữa tứ bề núi dựng đứng. Nơi đó họ đủ sức quan sát như mắt chim đại bàng về cách tìm kiếm các sản vật hay thú rừng để vạch lối đi săn. Quả đồi đó cũng như pháo đài để họ cố kết chống lại dã thú hay những bộ tộc khác muốn đánh chiếm, xâm lấn.

Bộ đội biên phòng Quảng Bình vừa khánh thành cho 22 hộ anh em Mày 22 căn nhà trên một quả đồi lý tưởng như thế. Và người Mày xem bản nhỏ của họ là chiếc tổ đại bàng hùng vĩ giữa bốn phía trường thành núi cao. Từ quốc lộ 12A vào với bản Dộ nơi người Mày đến ở mất 30 cây số lầy lội của đường tuần biên mới mở. Trên núi cao Cu Động nhìn xuống bản của người Mày mới mẻ, quần tụ trong ánh nắng rừng, thấy mỗi ngôi nhà sát lại với nhau giữa đất trời, cảnh tượng đẹp lạ lùng.

Hành trình tìm vùng đất thiêng

Người Mày vốn có cuộc sống chôn nhau ở Tà Vờng, Tà Dong, đó là nơi đầu nguồn của giọt nước Hong Uông Trì Huồi, một trong những dòng suối đầu tiên khởi phát ra sông Gianh nổi tiếng. Nhưng gần đây bản làng cũ của họ bị đất núi sạt lở, họ phải đi tìm nơi ở mới.

Người Mày nhờ bộ đội biên phòng tìm giúp nơi nào có mô đất đẹp, thoát được cảnh lở đất, nơi đó phải gần một nguồn nước ở phía cao như từ trên trời chảy xuống. Đồng thời, nơi ở mới phải từng là đất có chim đại bàng tung cánh! Đây là vùng đất từng hiện diện trong truyền thuyết của người Mày, được lớp trước truyền cho lớp sau qua những đêm lửa Khan đầy bí tích.

Già Hồ Xếp kể: “Bản năng của người Mày là bảo vệ những gì xung quanh và cảnh giác với những gì thuộc về xấu xa, dã thú. Người Mày sinh ra đã là anh em với các tộc người khác trong vùng nhưng chọn nơi sống là vùng đất cao hơn các bản làng của những tộc người khác, vì thần núi định đoạt số phận của tộc người mình là chiến đấu và bảo vệ”. Vậy nên nơi ở mới của những anh em Mày phải cao hơn nơi ở cũ, nếu không họ sẽ cương quyết không rời bỏ những nơi đất đá chực chờ vùi lấp.

Và nhiệm vụ này được anh em bộ đội biên phòng Ra Mai - đơn vị từng gắn bó keo sơn với đồng bào các dân tộc anh em trong khu vực, nhất là với người Mày - đảm nhận. Thượng tá Lê Văn Thuận, chính trị viên Đồn Ra Mai, nói: “Dân bản nhờ thì phải làm nhưng việc khó như… bắc thang lên trời, vì chính người Mày cũng chưa tìm ra đất đai trong truyền thuyết, là nơi có ngọn đồi độc lập giữa tứ bề có núi non cao thẳm. Khó cực kỳ nhưng khó mấy cũng giúp dân, bởi giúp được dân mới giữ được đất, giữ được mối tình thủy chung, đoàn kết bền lâu với bản làng”.

Thế rồi ngày ngày, bóng dáng bộ đội biên phòng lầm lũi giữa lau lách đồi núi, phóng bao tầm mắt đẫm sệt mồ hôi tìm đất cho anh em người Mày. Cả hệ núi Giăng Màn rộng lớn, tìm đâu ra thung lũng nào như thế? Từng đôi vai bạc thếch ve áo, từng đôi dép mòn vẹt hết gót, đi mãi giữa rừng trong vô biên khó khăn… Nhưng cuối cùng, cái chân của bộ đội biên phòng đã đặt đến ngọn đồi Mơ Leng, thung lũng hình êlíp, xung quanh núi cao vút, ngọn đồi nhỏ mảnh tựa như tổ chim khổng lồ được chọn. Già làng Hồ Xếp cùng trưởng bản được mời đến. Nhìn bao quát địa thế quanh ngọn đồi Mơ Leng, già làng Hồ Xếp phán: “Vùng đất thiêng đây rồi! Đây chính là nơi được truyền thuyết người Mày kể lại!”.

Bộ đội lại xắn tay áo giúp dân bản san đất dựng nhà. Ngày vào nhà mới, trưởng bản Hồ Khiên nói: “Người Mày trước đây chỉ nghe cha ông kể là ở trên một ngọn đồi độc lập nhưng chỉ qua chuyện kể hằng đêm thôi, bố mình, ông mình ở dọc các khe suối nhưng nhờ bộ đội biên phòng mà tìm được ngọn đồi truyền thuyết này. Cả bản ai cũng ưng bụng, người Mày ở bản khác nhìn vào cũng thích lắm, bởi đây là điều thiêng hiện về”.

“Công xã nguyên thủy”

Với người Mày, mỗi lần bản có khách, không phải chỉ một mình chủ nhà tiếp đãi mà lần lượt các nhà trong bản đều khoản đãi khách bằng những bữa cơm lúa nương và canh măng tươi với lá cọ rừng rất ngon. Tôi may mắn được là một trong những vị khách như thế. Bữa cơm đạm bạc của dân bản Mày thết đãi cho thấy tiềm lực ngôi nhà của họ và cũng bộc toát lên tâm hồn của họ, có cái gì cũng đưa ra mời khách.

Bữa cơm tối của cảnh núi rừng âm u, chỉ bên ngọn đèn tạo ra từ loại dầu của cây Cu Lết trên rừng. Giữa bản có nhà bắt được mớ cá khe cũng đưa đến chung vui đãi khách, rồi hỏi han bao chuyện cuộc sống miền xuôi, miền ngược. Người Mày đang tồn lưu những gì thuộc về công xã nguyên thủy, mọi thứ thuộc về mưu sống họ đều chia sẻ, kể cả với khách phương xa.

Ngày nay, buôn bán đã tràn đến bản làng người Mày bằng chiếc xe máy của đội quân buôn chuyến, người Mày đã có thể ăn được con cá trích, cá nục từ dưới biển đưa lên. Nhưng họ thật sự chỉ dừng lại ở vật đổi vật ngang giá, đồ dưới xuôi đổi các đặc sản rừng, không hề có kỹ năng ngã giá. Một số người Mày đổi sản vật cho các lái buôn chuyến thành tiền, có người vẫn không biết phân biệt giá cá nục thế nào, mắm muối ra sao. Tôi đưa 200.000 đồng cho chị Y Phăng, vợ trưởng bản Hồ Khiên, đi mua cá, chị thấy rõ số 2, không đọc được các số 0 phía sau. Ra chợ, chị mua đúng con buôn lừa mánh, 200.000 đồng chỉ được một ký cá. Hỏi sao chị không ngã giá, Y Phăng trả lời: “Không biết mô”…

Không chỉ có vợ Hồ Khiên, nhiều người khác cũng như thế, bởi mãnh lực núi rừng kéo họ lại với quá khứ ngày xưa nhiều hơn, những va chạm và tiếp xúc với văn minh quá ít nên chưa thể bào mòn ý thức xưa cũ. Người phụ nữ Mày vào rừng vẫn nhanh nhẹn với tài hái lượm, đàn ông Mày vẫn dẻo dai với săn bắn thì ý thức công sản của ngày nguyên thủy vẫn đeo bám tâm trí họ. Nhưng cái được lớn nhất là người Mày rất hào hoa với khách đường xa.

Những chiến binh núi Ku Lôông

Ngày xưa, khi vùng đất miền tây Quảng Bình lắm giặc và nhiều dã thú, tộc người Mày nhận lãnh trách nhiệm chiến đấu ngăn chặn xâm lấn bờ cõi, tiễu trừ mãnh thú và bảo vệ nguồn nước. Người Mày trở thành chiến binh được các tộc người anh em phía dưới ngưỡng mộ.

Trong suy nghĩ của người Mày, họ là những chiến binh dũng mãnh nhận lãnh nhiệm vụ ngăn chặn xâm lấn và bảo vệ nguồn nước. Chính đạo chia nước và cuộc sống không tư hữu của họ khiến các tộc người anh em phải ngưỡng mộ.

Chuyện kể rằng thời thượng cổ, người Mày và anh em khác ở bóng núi Giăng Màn thường bị các tộc người lạ vây đánh. Họ thoắt ẩn, thoắt hiện, đánh đuổi người Mày, người Khùa… chạy từ núi này sang núi nọ. Một hôm, thần núi Ku Lôông báo mộng, bày cách cho người Mày chống lại những bộ tộc xâm chiếm. Thần phán muốn thắng giặc thì phải chọn ngọn đồi độc lập giữa thung lũng, biến nó thành pháo đài để chiến đấu. “Thần còn chỉ cho chúng tôi cái cây có chất độc, cách làm ná, cung tên tẩm độc, cách lấy ong rừng đánh đuổi kẻ thù, đặc biệt là kỹ thuật bẫy lao, bẫy chông ba khía. Từ đó, người Mày đã đứng lên đánh bại kẻ thù, trở thành chiến binh vĩ đại của những bản làng khác nên đặc ân ở trên ngọn đồi hùng vĩ, cao nhất” - già làng Hồ Xếp kể.

Lễ trưởng thành

Tuổi trưởng thành của con trai người Mày được đánh dấu bằng một nghi lễ đơn sơ nhưng cũng đầy thách thức đối với những “chiến binh” tương lai của bản. Đến ngày lành tháng tốt, con trai phải vào rừng lấy mật, phải đi bằng chân trần, tay không mang gì, lưng chỉ đeo một A Chăng (cái gùi lót lá cọ khô - NV) để đựng tổ ong. Tìm được tổ ong, con trai Mày dùng khói, hun gốc cây, lấy lá cọ kết lại, làm mặt nạ quanh mặt và quanh thân để tránh ong đốt. Lấy được mật, họ phải đưa về trình già làng để già làng chia đều cho cả bản. Khi ấy, bản làng mới công nhận đứa con trai ấy đã trưởng thành.

Trong nếp nhà của người Mày đều thờ cúng vị thần tổ Giang Bra, thần của các vị thần. Bản người Mày không lập miếu thờ chung mà chọn một nơi cao ráo, sạch sẽ để hành lễ. Khi có lễ, già làng đưa đến ba cây gỗ, cắm kiểu chân kiềng, trên đó sắp mâm cúng gồm gà luộc, cá suối và thuốc rừng, mời thần Giang Bra, thần Ku Lôông về dùng cùng dân bản rồi phù hộ cho bản bình yên, nương rẫy tốt tươi, săn bắn được nhiều chim thú.

Đạo chia nước

Người Mày rất quý nước, nhất là nước đầu nguồn. Họ ý thức rất rõ thứ tài nguyên vi diệu này đối với cuộc sống, không chỉ của họ mà còn với những tộc người anh em ở phía dưới nguồn.

Đêm, bên bếp lửa nhà sàn, già làng Hồ Xếp ngồi nghiêm trang kể chuyện cho lũ làng nghe cách tổ tiên bảo vệ nguồn nước như thế nào. “Khi đánh đuổi những bộ tộc xâm lấn, các nguồn nước bị làm phép cho cạn kiệt, trời cũng chẳng cho mưa về. Còn lại cái giếng nước vuông và cái giếng nước tròn của Ku Téc (thần đất), nơi đó cũng là nơi lãnh vực biên ải của người Mày. Vì vậy, người Mày cố công bảo vệ. Bao lần kẻ thua cuộc dã tâm bỏ thuốc độc nhưng không thể tiếp cận cái nước của thần Ku Téc bởi sự thiện chiến của chiến binh Mày. Bảo vệ được nguồn nước, người Mày cầu thần Ku Lôông cho được trời mưa, giải khỏi lời nguyền xấu, nước ở trời men theo tường vách dựng đứng của hệ núi Giăng Màn tưới mát cho tất cả anh em Mày, Sách, Khùa, Rục… và cả người Kinh dưới xuôi của dòng sông Gianh...” - giọng già làng Hồ Xếp lầm rầm.

Bởi vậy, địa thế của người Mày ở bản mới có được hai nguồn nước như chảy xuống từ trời, một ngọn Hong Tà Râu, một nguồn Hong Pà Ài, rì rào chảy qua nương rẫy, đổ xuống dòng Rào Nậy để nuôi nấng các bản làng phía dưới. Già làng Hồ Xếp nói: “Nước không dành riêng cho người Mày mà dành cho những anh em khác nữa, chiếm nguồn nước là điều không thể ác hơn”.

Người Mày cuối năm thường có lễ chia nước ngọt hứng từ mái nhà sàn hoặc lấy ở nguồn nước suối. Lễ chia nước cho các gia đình trong bản đều do người có trọng vọng (già làng, trưởng bản) chia, mỗi nhà chừng một lít nước. Đó là cách họ muốn ẩn ý sự chia sẻ tài nguyên tự nhiên để bảo tồn cuộc sống. Có nước, người Mày mới nhớ đến nhau và nhớ đến những người anh em láng giềng khác.

Cùng với lãnh nhiệm bảo vệ nguồn nước, đạo chia nước của người Mày khiến những tộc người anh em kính trọng, nể vì. Nước như một vị thần bản thể đi ra từ ý thức của họ, không có nước thì không có sự sống, không có sự tồn tại.

Chia thịt mùa săn

Cứ vào tháng 7 mùa mưa rừng, người đàn ông Mày chuẩn bị ná, tên độc từ một loại cây họ sung mọc bên suối có nhựa cực độc. Vào lễ săn, già làng cúng mở cửa bản, hòn đá thiêng của bản đặt bên gốc cây khô, quanh bản có một cửa ra được gọi là cửa lên trời. Những cây lồ ô được rút ra, mỗi thợ săn được mời bước qua đó và dùng máu gà sống bôi lên trán, chỉ dấu về hùng mạnh của các chiến binh người Mày năm xưa.

Những chuyến đi săn của người Mày thường kéo dài từ một tuần đến cả tháng. Lương thực họ mang đi chỉ là ít bắp ngô và sắn, còn gạo thì phải nhường cho trẻ em, phụ nữ và người già. Già Hồ Xếp nói: “Không bới gạo đi cũng là chứng tỏ bản lĩnh của con trai Mày dẻo dai như cây rừng”.

Họ đi vào rừng và phân công tốp săn một cách thông minh. nếu dùng bẫy họ đi theo dấu vết của thú rừng, phát hiện đường đi, họ sẽ làm một cái bẫy cạnh nơi có nước, thú đến đó sẽ mắc bẫy. Nếu là săn bằng ná và tên độc, họ thường có người tiền trạm đi trước, phát hiện có thú, một tiếng huýt như tiếng chim ưng được phát ra, cả nhóm bủa thành hình vòng cung và xả tên vào con thú. Chưa bao giờ người Mày đi săn trở về tay không.

Một con heo rừng, con nai, con mang hay bất cứ loài thú nào bắt được, người Mày đều chia cho tất cả thành viên trong bản. Ngoài phần thịt như mọi người, người đầu tiên phát hiện con thú được chia thêm cái đầu - biểu tượng của một chiến binh, một thợ săn thiện nghệ.

Tôi được trưởng bản Hồ Khiên dẫn đi săn thú. Một ngày quần rừng trời mưa, những động loạn khiến mọi con vật lẩn trốn. Tưởng phải tay không ra về nhưng cuối buổi, trưởng bản Hồ Khiên cũng bắt được một con rắn to và một chú thỏ rừng. Ông không vội đưa chiến lợi phẩm về nhà mà kính cẩn mang đến nhà già làng Hồ Xếp để vị già làng phân chia. Số thịt làm ra không nhiều, già Xếp nói chỉ phân cho một số nhà khó khăn và gia đình Hồ Khiên. Riêng tôi được già phân cho một miếng thịt thỏ và một khúc thịt rắn, bởi tôi có công đi với Hồ Khiên, đồng thời là vị khách đặc biệt của bản.

Con thú có bầy, con chim có đàn

Bạn có hình dung nổi không, ngay trong thế kỷ 21 này, vẫn còn có nơi sau mùa rẫy, người ta thu hoạch lúa, ngô, khoai sắn xong bỏ vào cái lán trên nương. Ở đó, dòng họ, anh em đều được phép mang về nhà ăn, ai đói cũng có quyền nói với trưởng tộc hoặc già làng rồi xin chủ nhân được ra lán lấy ít lương thực về ăn. Anh em Mày chia nhau miếng ăn như chia nhau những câu chuyện kể về nguồn gốc của tộc người mình.

Già làng Hồ Xếp nói: “Cái người Mày nhà này có mà người Mày nhà khác không có thì phải cho nhau, vì có khi mình không có thì người khác cho. Người Mày mỗi bản vài nóc nhà, không cưu mang nhau để sống bền với rừng thì thua con thú, con chim - chúng sống còn có bầy, có đàn, huống chi người Mày mình, chẳng lẽ không hơn con chim, con thú!”.

Với người Mày, nhà cửa là cái chỉ để ở, để che mưa che nắng cho các thành viên trong gia đình, không cần thiết phải nhà to, thang rộng, nhà này phải hoành tráng hơn nhà kia. Cho nên nhà cũ của họ (khi chưa được bộ đội biên phòng Quảng Bình chuyển đến quả đồi Mơ Leng hùng vĩ như tổ chim đại bàng) nó đơn sơ, giản dị đến cùng cực. Chỉ đến khi bộ đội biên phòng giúp dựng nhà mới, họ mới nghe kể về sự trọng đại của việc làm nhà trong đời, như lễ trưởng thành của người Mày trở thành chiến binh của bản.

Người Mày cũng biết chăn nuôi gia súc, gia cầm nhưng mới chỉ dừng lại ở vài con gà, con heo, con chó. Và có lẽ đó cũng là một trong những thứ họ tư hữu đầu tiên trong ý thức của mình bên cạnh những vật dụng đơn sơ nhất trong mỗi gia đình.

Người Mày còn truyền tụng nhau nhiều lời ca điệu hát. Cùng với tập tục và nghi lễ cưới vợ, những làn điệu hát ru của người Mày có thể coi là một gia tài văn hóa độc đáo của một tộc người được sinh ra và lớn lên giữa núi rừng Trường Sơn đại ngàn. Mặc dù đã đi qua chiến tranh, đã ít nhiều bị văn hóa hiện đại xâm nhập… nhưng đến nay bà con người Mày ở Minh Hóa Quảng Bình vẫn còn giữ được bản sắc văn hóa độc đáo ấy.

Nếu có dịp trở lại Trường Sơn huyền thoại, qua địa phận Quảng Bình, du khách hãy dừng chân ở Minh Hóa để biết thêm một tộc người anh em bản địa, dân số tuy chỉ ngàn người có lẻ, nhưng họ có một tư duy triết lý thông minh, một gia tài văn hóa độc đáo rất cần được tìm hiểu và chung tay gìn giữ bảo tồn…

Du lịch, GO! - Tổng hợp theo báo Pháp Luật TP, Quảng Bình 24...

Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2013

Độc đáo cháo mối của người Cơ Tu.

Đến với núi rừng Trường Sơn hoang dã thuộc huyện Đông Giang (Quảng Nam), bạn sẽ được thưởng thức các món ăn chế biến từ con mối cánh (cláp). Đó là món ăn ưa thích, hấp dẫn của đồng bào Cơ Tu.

Già Mạc Thị Gách (87 tuổi), là “chuyên gia” “gọi mối” đất ở thôn Tống Coói (xã Ba- Đông Giang) cho biết: “Gần như toàn bộ số gia đình người Cơ Tu ở đây đều biết “gọi mối về”.

Mùa bắt mối diễn ra từ tháng 3- 8 (âm lịch) hàng năm. Khi mối xuất hiện, bà con tranh thủ bắt mối đất để rang ăn chơi, hoặc rang xong giằm nước mắm hoặc giã với muối ăn với cơm hoặc nấu cháo (cláp p’chơ)… đều thơm ngon.

Nhà tôi, có đêm mối ra bắt trên 5 ký mối, cái thì phơi khô, cái thì rang ăn liền. Khi rang bỏ ít muối để trong ống lồ ô, gác trên giàn bếp ăn dần. Người con rể Cơ Tu hiếu thảo thì thường xuyên nấu cho bố mẹ vợ món cháo ”cláp p’chơ” này vì những người già chúng tôi đều đau răng, rụng răng, món này dễ húp…”.

Già Gách cho hay, nếu không có đèn điện, khi phát hiện có mối đang bay ra, chúng tôi thắp một cây đèn dầu hoặc đèn cầy, cắm giữa cái thau lớn đặt ở nơi thuận tiện ngoài sân, trong thau đổ nước ngập 1/4 cây đèn.

Mối thấy ánh sáng cùng nhau bay đến, sà xuống gặp nước, ướt cánh không bay lên được, nên nằm lại trong thau. Thỉnh thoảng, mình lấy tay khuấy nước trong thau để mối ướt cánh không bay lên được. Nếu thấy trong thau nhiều mối quá thì hốt mối ra bỏ vào bao nilon hoặc xoong, nồi, thùng, mủng…

Công đoạn bắt mối chỉ diễn ra khoảng nửa giờ là kết thúc, lúc này mối đã ít dần, chúng bị rụng cánh và rơi dần ở chung quanh khu vực. Sau khi kết thúc cuộc bắt mối, người ta dùng nước sạch rửa mối nhẹ nhàng nhiều lần cho sạch và vớt ra một cái rá nhựa để cho ráo nước…

Mối đang bắt còn nguyên cánh mỏng, thân dài khoảng 1cm, bụng lớn bằng sợi bún tươi, có viền đen quanh thân màu vàng nâu, ngực và đầu nhỏ hơn.

Bà A lăng Thị Nhá (58 tuổi), ở thôn Tà Lâu, xã Ba (Đông Giang) cho biết: “Mối rang là món ăn ngon miệng, hấp dẫn đối với đồng bào Cơ Tu và một số người Kinh. Muốn ăn, người ta đặt chảo lên bếp, chờ nóng đều, bỏ vài bát mối này vào và dùng đũa khuấy đều, mối bốc hơi và khô dần… cho đến khi từ chảo bay ra một mùi thơm quyến rũ, ngào ngạt, mang hương thơm mùi châu chấu nướng và những tiếng nổ lẹt đẹt nho nhỏ, báo hiệu mối đã chín rồi.

Lúc này, đổ ra mẹt, lấy các ngón tay đảo nhẹ và sảy, hay bật cái máy quạt cho cánh mối bay đi, chỉ còn lại thân mối vàng ươm. Người Cơ Tu ngoài rang mối để “ăn chơi” ra, họ còn giã nát nén lại thành bánh để ăn dần. Khi rang mối họ thêm vào ít muối và cất trong ống lồ ô để dành ăn lai rai và hương vị cũng không kém phần ngọt ngào.

Đặc biệt là món cháo mối ăn rất thơm ngon được chế biến như sau: Nấu cháo gạo hay sắn tươi chín, cho tiếp mối đã rang vào nồi, chờ sôi lại rồi nêm gia vị cho vừa ăn. Bát cháo mối với màu nâu của mối, màu trắng của cháo ăn có mùi thơm rất đặc trưng, bổ dưỡng...

Không gì thú vị bằng khi được thưởng thức hương vị thơm lừng, beo béo và ngọt bùi… của món mối cánh rang, có thêm vài ly rượu tà vạt, rôm rả trò chuyện cùng với người già, lũ trẻ. Gương mặt của họ cũng hồng lên, lấp lánh bên bếp lửa hồng.

Du khách qua đây trong mùa mối cánh, nếu đã một lần thưởng thức cái hương vị thơm ngon, độc đáo của món cháo mối ở Trường Sơn này thì không thể nào quên được.

Du lịch, GO! - Theo Hòa Vang (Vĩnh Long Online)